Job 16
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To naah Job mah,
1Gióp đáp rằng:
2to baktih loknawk ka thaih pop parai boeh; pathloephaih lok nang thuih o, toe poek amrosakkung ah ni na oh o boih.
2Ta thường nghe nhiều lời giảng luận như vậy; Các ngươi hết thảy đều là kẻ an ủi bực bội.
3Avang ai loknawk to boeng thai ai boeh maw? Tipongah maw lok pathim hanah misa na hoih o?
3Các lời hư không nầy há chẳng hề hết sao? Điều thúc giục ngươi đáp lời là gì?
4Kang doethaih ahmuen ah na oh o nahaeloe, na thuih o ih baktiah ka thuih thai toeng; lok hoi kang zoeh o thaih moe, lu kang haek o thuih thaih.
4Ta cũng dễ nói được như các ngươi nói; Nếu linh hồn các ngươi thế cho linh hồn ta, Tất ta cũng sẽ kể thêm lời trách các ngươi, Và lắc đầu về các ngươi.
5Toe ka pahni hoi tacawt pathloephaih lok mah nangcae poek mongsak hanah, thapaekhaih lok ni kang thuih o han.
5Nhưng ta sẽ lấy miệng ta giục lòng các ngươi mạnh mẽ, Lời an ủi của môi ta sẽ giảm bớt nơi đau đớn các ngươi.
6Lok ka thuih cadoeh, ka nathaih hoihkhang ai; lokthui ai ah ka pauep cadoeh, hoih kuehaih om ai.
6Dầu ta nói, đau đớn ta không được bớt; Tuy ta nín lặng, nó lìa khỏi ta đâu?
7Toe vaihi loe Anih mah kai angphosak boeh; ka imthung takoh boih nam rosak boeh.
7Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời khiến ta mệt mỏi. Chúa đã tàn hại hết nhà của tôi.
8Ka nganhin loe angcu boih boeh, nganhin angcu loe kai hnukung ah oh; kai loe ka zaek keng boeh, ka nganhin zaekhaih loe kai hnukung ah oh hanah mikhmai kangtong ah angdoet tahang.
8Chúa đã làm tôi đầy nhăn nhíu, ấy làm chứng đối nghịch cùng tôi; Sự ốm yếu tôi dấy nghịch cùng tôi, cáo kiện tôi tại ngay mặt tôi.
9Sithaw palungbethaih mah kai hae angsih pet pet moe, ang pacaekthlaek; haa ang kaek thuih; ka misa mah miktamai hoiah ang khet.
9Trong cơn thạnh nộ người xé tôi và bắt bớ tôi; Người nghiến răng nghịch tôi, Kẻ cừu địch tôi trừng ngó tôi.
10Nihcae mah pakha ang angh o thuih; nihcae loe nawnto amkhueng o moe, khet patoekhaih hoiah tangbaeng ah ang tabaeng o.
10Chúng há miệng nghịch tôi, Vả má tôi cách khinh thị; Chúng hiệp nhau hãm đánh tôi.
11Anih mah Sithaw panoek ai kaminawk ban ah ang paek moe, kahoih ai kaminawk ban ah ang vah.
11Đức Chúa Trời đã phó tôi cho kẻ vô đạo, Trao tôi vào tay kẻ gian ác.
12Kamongah ka oh naah, anih mah kai amrosak; tahnong ah ang patawnh moe, apet pat hanah ang thuek pacoengah, kah han patoep ih ahmuen maeto baktiah ang suek.
12Tôi xưa bình tịnh, Ngài bèn tàn hại tôi; Ngài có nắm cổ tôi, và bẻ nát tôi, Cũng đặt tôi làm tấm bia cho Ngài.
13Kalii kaat kop anih ih kaminawk mah kai ang takui o khoep moe, tahmenhaih tawn ai ah kaeng ah ang thun o; kai ih ahmuet tui to long ah ang kraih pae.
13Các mũi tên Ngài vây phủ tôi, Ngài bắn lưng hông tôi, không thương tiếc, Đổ mặt tôi xuống đất.
14Anih mah ahmaa maeto pacoeng maeto angsihsak moe, misatuh kami baktiah tha hoiah ang hmang.
14Ngài làm cho tôi bị thương tích này trên thương tích kia, Xông vào tôi như một kẻ mạnh bạo.
15Ka nganhin nuiah kazii to ka huih moe, kaimah ih taki to maiphu thungah ka phum.
15Tôi đã may cái bao trên da tôi, Tôi hạ mặt tôi xuống bụi đất.
16Ka qah loiah ka mikhmai hae amro moe, ka miklakoek nuiah duekhaih to oh;
16Mặt tôi sưng đỏ lên vì cớ khóc, Bóng sự chết ở nơi mí mắt tôi;
17toe ka ban ah sethaih hmuen tidoeh om ai; lawk ka thuihaih loe ciim.
17Mặc dầu tại trong tay tôi không có sự hung dữ, Và lời cầu nguyện tôi vốn tinh sạch.
18Aw long, kai ih athii hae kraeng hmah; ka hanghaih lok loe natuek naah doeh anghak hmah nasoe!
18Oâi đất, chớ lấp huyết ta! Ước gì tiếng than kêu tôi không có chỗ ngưng lại!
19Khenah, vaihi kai hnukung van ah oh, kai angdoe haih kami doeh hmuensang ah oh.
19Chính giờ này, Đấng chứng tôi ở trên trời, Và Đấng bảo lãnh cho tôi ở tại nơi cao.
20Kam puinawk mah ang pahnui o thuih, kai loe mikkhraetui hoiah ni Sithaw hmaa ah ka oh.
20Các bạn hữu tôi nhạo báng tôi. Còn tôi hướng về Đức Chúa Trời mà khóc,
21Kami maeto mah ampui han tahmenhaih hnik pae baktih toengah, kami maeto mah Sithaw khaeah tahmenhaih na hni pae nahaeloe ka koeh.
21Để Ngài phân xử giữa loài người và Đức Chúa Trời, Giữa con cái loài người và đồng loại nó!
22Saning akra ai ah, amlaem let han ai ih loklam to ka pazui han boeh.
22Vì ít số năm còn phải đến, Rồi tôi sẽ đi con đường mà tôi chẳng hề trở lại.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.