Job
Chapter 14
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Nongpata mah tapen ih kami loe nawnetta hing nathung raihaih hoiah koi.
1Loài người bởi người nữ sanh ra, sống tạm ít ngày, Bị đầy dẫy sự khốn khổ.
2Anih loe apawk baktiah ampha tahang moe, azaem roep; tahlip baktiah cawnh, cak poe ai.
2Người sanh ra như cỏ hoa, rồi bị phát; Người chạy qua như bóng, không ở lâu dài.
3To baktih hmuen pongah mik na padai moe, lokcaekhaih hmaa ah nang caeh haih han maw?
3Dầu vậy, Chúa còn để mắt trên người dường ấy, Và khiến tôi đến chịu Chúa xét đoán sao?
4Mi mah maw kaciim ai thung hoiah kaciim hmuen to sin thai tih? Mi mah doeh sin thai mak ai.
4Ai có thể từ sự ô uế mà lấy ra được điều thanh sạch? Chẳng một ai!
5Kami ih aninawk to kroek moe, khrah nazetto maw oh pae vop, tiah na panoek pae pongah, anih mah poeng thai han ai ah ramri to na sak pae.
5Nếu các ngày của loài người đã định rồi, Nếu số tháng người ở nơi Chúa, Và Chúa đã định giới hạn cho người, mà người không qua khỏi được,
6Toksak han tlai ih kami baktiah, angmah ih aninawk boeng khoek to, angmah koeh ah oh hanah, anih to angqoi taak ah.
6Thì xin Chúa hãy xây mắt Ngài khỏi người, để người đặng yên nghỉ, Cho đến khi mãn ngày mình như kẻ làm mướn vậy.
7Thing loe pakhruk cadoeh, tadok tacawt let ueloe, tanghang kangtha tacawt let tih, tiah oep han oh.
7Vì cây cối dẫu bị đốn còn trông cậy Sẽ còn mọc lên nữa, Không thôi nức chồi.
8Long thung ih tangzuun loe mitong boeh pongah, long ah akung dueh cadoeh,
8Dẫu rễ nó già dưới đất, Thân nó chết trong bụi cát,
9tui hmui hoiah tadok let ueloe, thingkung kanawk baktiah tanghang tacawt let tih.
9Vừa có hơi nước, nó sẽ mọc chồi, Và đâm nhành như một cây tơ;
10Toe kami loe duek moe, qong ving; ue, a hinghaih boeng pacoengah loe naa ah maw om vop tih?
10Nhưng loài người chết, thì nằm tại đó, Loài người tắt hơi, thì đã đi đâu?
11Tuipui tui loe anghmat moe, vacong tui doeh kaang king baktih toengah,
11Nước hồ chảy mất đi, Sông cạn và khô:
12kami loe angsong moe, angthawk let ai boeh; vannawk anghmaa ai karoek to anglawt mak ai, a iihhaih ahmuen hoi angthawk mak ai boeh.
12Cũng vậy, loài người nằm, rồi không hề chổi dậy: Người chẳng hề thức dậy cho đến khi không còn các từng trời, Và chẳng ai sẽ khiến cho người tỉnh lại khỏi giấc ngủ mình.
13Aw taprong thungah na hawk ah, palung na phuihaih dip ai karoek to, tamquta hoi na hawk ah! Kai pahnet han ai ah, ka oh han ih atue to na khaek pae ah.
13Oâi! Chớ gì Chúa giấu tôi nơi âm phủ, che khuất tôi cho đến khi cơn giận Chúa đã nguôi, Định cho tôi một kỳ hẹn, đoạn nhớ lại tôi!
14Kami loe duek pacoengah hing let tih maw? Karai toksakhaih aninawk loe sawk parai cadoeh, kam khraihaih atue pha ai karoek to ka zing han.
14Nếu loài người chết, có được sống lại chăng! Trọn ngày giặc giã tôi, tôi đợi chờ, Cho đến chừng tôi được buông thả,
15Nang kawk naah, kang pathim pae han; na ban hoi sak ih hmuen to na koeh.
15Chúa sẽ gọi, tôi sẽ thưa lại; Chúa sẽ đoái đến công việc của tay Chúa;
16Vaihi loe ka khok tangkannawk to na kroek moe, ka zaehaih to na khen ai boeh.
16Nhưng bây giờ, Chúa đếm các bước tôi, Chúa há chẳng xem xét các tội lỗi tôi sao?
17Ka sakpazaehaih loe pasah thungah catui ka daeng boeh moe, ka zaehaih nang kraeng pae hmoek boeh.
17Các tội phạm tôi bị niêm trong một cái túi, Và Chúa có thắt các sự gian ác tôi lại.
18Tanim thaih mae loe anghmat boeh moe, lungsong doeh a ohhaih ahmuen hoiah angthuih ving boeh.
18Song núi lở tan thành ra bụi, Và hòn đá bị nhắc dời khỏi chổ nó.
19Tuinawk mah thlung to maawtsak moe, tui tha mah long to takhawh baktih toengah, kami oephaih to nam rosak.
19Nước làm mòn đá, Lụt trôi bụi đất: Cũng một thể ấy, Chúa hủy sự hy vọng của loài người.
20Kami to na pazawk poe, anih loe anghmat ving boeh; anih ih mikhmai to nam khraisak moe, kalah bangah na patoeh ving.
20Chúa hãm đánh và thắng hơn loài người luôn, đoạn nó đi qua mất; Chúa đổi sắc mặt nó, và đuổi nó đi.
21A capanawk mah pakoehhaih hnu o cadoeh, anih mah panoek ai boeh; nihcae atlim ah krah o cadoeh, anih mah panoek pae ai boeh.
21Các con trai người được tôn trọng, còn người nào biết đến; Chúng bị hạ xuống, nhưng người cũng chẳng để ý vào.
22Toe anih ih ngan to naa ueloe, a hinghaih palungsae tih, tiah a naa.
22Thịt người chỉ đau đớn vì một mình người, Và linh hồn người chỉ buồn rầu vì chính mình người mà thôi.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.