Job 17
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ka hinghaih amro boeh moe, kai ih aninawk doeh laemh boeh; taprong mah ang zing kong boeh.
1Hơi thở tôi bay đi; các ngày tôi hầu hết; Mồ mả sẵn dành cho tôi!
2Nihcae mah kai ang pahnui o thuih na ai maw? Ang pahrue o haih to ka mik mah hnuk toepsoep na ai maw?
2Kẻ cười nhạo vây chung quanh tôi, Mắt tôi hằng nom sự sỉ nhục của chúng nó.
3Vaihi kai han kacak lokkamhaih to na paek ah, mi hoiah maw ban kang sinh hoi han?
3Xin Chúa ban cho tôi một bằng cớ; hãy bảo lãnh tôi bên Chúa; Vì ngoài Chúa ai sẽ bảo lãnh cho tôi?
4Nihcae panoekhaih palung mik na maengsak boeh; to pongah nihcae to pakoeh hmah.
4Vì Chúa khiến lòng chúng không thông sáng, Nên Chúa sẽ không cất chúng cao lên.
5Ampui aling kami loe, a caanawk mikmaeng pae tih.
5Người nào nộp bằng hữu mình cho bị cướp, Mắt của con cái nó sẽ bị hao mòn.
6Kaminawk mah kasae thuih hanah anih mah ang suek, kai loe minawk mah mikhmai ah tamtui pathoih ih kami ah ka oh.
6Nhưng Đức Chúa Trời có làm tôi trở nên tục ngữ của dân sự, Chúng khạc nhổ nơi mặt tôi.
7Palungset loiah ka mik amtueng ai boeh, ka takpum boih tahlip baktiah ni oh boeh.
7Mắt tôi lư lờ vì buồn rầu, tứ chi tôi thảy đều như một cái bóng.
8Toenghaih hoi khosah kaminawk loe hae hmuen pongah dawnrai o tih, zaehaih tawn ai kaminawk loe angsah cop kaminawk nuiah palungphui o tih.
8Các người ngay thẳng đều sẽ lấy làm lạ, Còn người vô tội sẽ nổi giận cùng kẻ ác tệ.
9Toe katoeng kami loe a caehhaih loklam ah caeh poe ueloe, ban ciim kami loe thacak aep aep tih.
9Song người công bình sẽ bền vững trong đường lối mình, Và người có tay tinh sạch sẽ càng ngày càng được mạnh dạn.
10Nangcae thungah palungha kami maeto doeh ka hnu ai pongah, vaihi amlaem o boih lai ah.
10Nhưng, hỡi các ngươi, hết thảy khá biện luận lại nữa; Song ta không thấy trong các ngươi có ai khôn ngoan.
11Kai ih aninawk loe laemh boeh moe, ka sak atimhaih hoi palung thungah ka poek ih hmuen doeh amro ving boeh.
11Các ngày tôi đã qua, Các mưu ý tôi, tức các thiết ý của lòng tôi, đã bị diệt.
12Hae kaminawk mah aqum to khodai ah paqoi o moe, khoving naah khodai loe zoi boeh, tiah thuih o.
12Chúng lấy đêm trở làm ngày; Trước sự tối tăm, chúng nói rằng ánh sáng hầu gần.
13Taprong loe kai ih im ni, tiah ka zing; vinghaih thungah iihhaih kahni to ka baih.
13Nếu tôi trông cậy âm phủ làm nhà tôi, Nếu tôi đặt giường tôi tại nơi tối tăm;
14Amrohaih khaeah, Nang loe kam pa ni, tiah ka naa; sadong khaeah, Nang loe kam no hoi ka tanu ah na oh, tiah ka naa.
14Vì tôi đã nói với cái huyệt rằng: Ngươi là cha ta; Với sâu bọ rằng: Các ngươi là mẹ và chị ta,
15Vaihi ka oephaih naa ah maw oh? Mi mah maw ka oephaih to hnu tih?
15Vậy thì sự trông cậy tôi ở đâu? Sự trông cậy tôi, ai sẽ thấy nó được?
16Nihcae loe kai hoi nawnto maiphu thungah anghak hanah, taprong khongkha thungah caeh o tathuk tih, tiah a naa.
16Khi tôi được an nghỉ trong bụi đất, Thì sự trông cậy sẽ đi xuống cửa âm phủ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.