Johan 1
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Tangsuek naah Lok to oh, to Lok loe Sithaw hoi nawnto oh, Lok loe Sithaw ni.
1Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.
2Lok loe tangsuek na hoiah boeh ni Sithaw hoi nawnto oh.
2Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời.
3Anih mah hmuennawk boih to sak; anih ai ah sak ih hmuen tidoeh om ai.
3Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.
4Anih thungah hinghaih oh; to hinghaih loe kami han aanghaih ah oh.
4Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người.
5Aanghaih loe kaving thungah aang; toe kaving mah anih to panoek ai.
5Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng.
6Sithaw khae hoi patoeh ih kami maeto oh; anih ih ahmin loe Johan.
6Có một người Đức Chúa Trời sai đến, tên là Giăng.
7Anih rang hoiah kaminawk boih mah tanghaih tawnh o thai hanah, anih loe hnukung maeto ah oh moe, aanghaih hnukung ah oh hanah angzoh.
7Người đến để làm chứng, là làm chứng về sự sáng, hầu cho bởi người ai nấy đều tin.
8Anih loe to Aanghaih to na ai ni, toe to Aanghaih hnukung ah oh han ih ni patoeh.
8Chính người chẳng phải là sự sáng, song người phải làm chứng về sự sáng.
9To Aanghaih loe long nuiah angzo kaminawk boih aanghaih paekkung, Aanghaih tangtang ah oh.
9Sự sáng nầy là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi người.
10Anih loe long ah oh, long loe Anih mah ni sak, toe long mah Anih to panoek ai.
10Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài.
11Anih loe Angmah kaminawk khaeah angzoh, toe Angmah ih kaminawk mah Anih to talawk o ai.
11Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy.
12Toe Anih talawk kaminawk hoi Anih ih ahmin tang kaminawk khaeah, Sithaw caa ah angcoeng thaihaih to a paek:
12Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài,
13to caanawk loe athii, taksa hoi kami koehhaih baktiah tapen ai, Sithaw koehhaih baktiah tapen kami ah ni oh o.
13là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy.
14Lok loe takpum ah angcoeng, aicae salakah oh moe, tahmenhaih hoi loktang hoiah koi (Ampa mah maeto khue tawnh ih lensawkhaih,) a lensawkhaih to a hnuk o boeh.
14Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha.
15Johan mah, Ka hnukah angzo kami loe kai tapen ai naah oh boeh, kai pongah len kue, tiah ka thuih ih lok loe Anih thuih koehhaih ih ni, tiah anih kawng to thuih.
15Giăng làm chứng về Ngài khi kêu lên rằng: Aáy là về Ngài mà ta đã nói: Đấng đến sau ta trổi hơn ta, vì Ngài vốn trước ta.
16Anih akoephaih hoi tahmenhaih loe aicae boih mah hnuk o.
16Vả, bởi sự đầy dẫy của Ngài mà chúng ta đều có nhận được, và ơn càng thêm ơn.
17Kaalok loe Mosi khaeah paek, toe tahmenhaih hoi loktang loe Jesu Kri rang hoiah ni angzoh.
17Vì luật pháp đã ban cho bởi Môi-se, còn ơn và lẽ thật bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà đến.
18Mi mah doeh Sithaw to hnu vai ai, toe Ampa ih saoek ah kaom, maeto khue tawnh ih, Capa mah Anih to amtuengsak boeh.
18Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết.
19Jerusalem ih Judahnawk mah, Nang loe mi aa? tiah dueng hanah qaimanawk hoi Levinawk to anih khaeah patoeh naah, Johan mah hae tiah thuih.
19Nầy là lời chứng của Giăng, khi dân Giu-đa sai mấy thầy tế lễ, mấy người Lê-vi từ thành Giê-ru-sa-lem đến hỏi người rằng: Oâng là ai?
20Anih loe angphat ai ah kai loe Kri na ai ni, tiah thuih.
20Người xưng ra, chẳng chối chi hết, xưng rằng mình không phải là Đấng Christ.
21Nihcae mah anih khaeah, to tih nahaeloe nang loe mi aa? Elijah maw? tiah dueng o. Anih mah, Kai loe Elijah na ai, tiah a naa. Nang loe Tahmaa maw? tiah dueng o. Anih mah, Kai loe tahmaa na ai ni, tiah a naa.
21Họ lại hỏi: Vậy thì ông là ai? phải là Ê-li chăng? Người trả lời: Không phải. Oâng phải là đấng tiên tri chăng: Người trả lời: Không phải.
22Nihcae mah anih khaeah, Kaicae patoeh kaminawk khaeah ka thuih pae o hanah nang loe mi aa, nangmah hoi nangmah to kawbangmaw na thuih? tiah a naa o.
22Họ bèn nói: Vậy thì ông là ai? hầu cho chúng tôi trả lời cùng những người đã sai chúng tôi đến. Oâng tự xưng mình là ai:
23Anih mah, Tahmaa Isaiah mah thuih ih lok baktih toengah, Kai loe Angraeng ih loklam to patoengh oh, tiah praezaek ah kahang kami ni, tiah a naa.
23Người trả lời: Ta là tiếng của người kêu trong đồng vắng rằng: Hãy ban đường của Chúa cho bằng, như đấng tiên tri Ê-sai đã nói.
24Nihcae loe Farasinawk mah ptoeh ih kami ah oh o.
24Những kẻ chịu sai đến cùng Giăng đều là người Pha-ri-si.
25Nihcae mah anih khaeah, Kri na ai, Elijah doeh na ai, Tahmaa doeh na ai to mah, tih han ih tuinuemhaih na paek loe? tiah dueng o.
25Họ lại hỏi rằng: Nếu ông chẳng phải Đấng Christ, chẳng phải Ê-li, chẳng phải đấng tiên tri, thì cớ sao ông làm phép báp têm?
26Johan mah nihcae khaeah, Kai loe tui hoiah ni tuinuemhaih to ka paek: toe nangcae salakah kaom na panoek o ai ih kami maeto angdoet;
26Giăng trả lời: Về phần ta, ta làm phép báp têm bằng nước; nhưng có một Đấng ở giữa các ngươi mà các ngươi không nhận biết.
27Anih loe ka hnukah angzoh, toe kai pongah len kue, kai loe anih ih khokpanai qui khram pae han mataeng doeh kam cuk ai, tiah a naa.
27Aáy là Đấng đến sau ta, ta chẳng đáng mở dây giày Ngài.
28Hae hmuennawk loe Johan mah tuinuem paekhaih, Bethany avang Jordan vapui yaeh ah sak.
28Những việc đó đã xảy ra tại thành Bê-tha-ni, bên kia sông Giô-đanh, là nơi Giăng làm phép báp têm.
29Khawnbangah loe angmah khaeah kangzo Jesu to Johan mah hnuk, To naah khenah, long zaehaih phawkung, Sithaw Tuucaa! tiah thuih.
29Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.
30Anih loe kai tapen ai naah oh boeh, ka hnukah angzo kami loe kai pongah len kue, tiah ka thuih ih kami loe, Anih hae ni.
30Aáy về Đấng đó mà ta đã nói: Có một người đến sau ta, trổi hơn ta, vì người vốn trước ta.
31Anih to ka panoek ai: Anih loe Israel kaminawk khaeah amtueng han koi kami ah oh pongah, tui hoiah tuinuemhaih to ka paek, tiah a naa.
31Về phần ta, ta vốn chẳng biết Ngài; nhưng ta đã đến làm phép báp-tem bằng nước, để Ngài được tỏ ra cho dân Y-sơ-ra-ên.
32Johan mah, Pahuu baktiah van hoiah anghum tathuk, Anih nuiah kacuk, Muithla to ka hnuk, tiah thuih.
32Giăng lại còn làm chứng nầy nữa: Ta đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bò câu, đậu trên mình Ngài.
33Anih to ka panoek ai: toe tui hoi tuinuem hanah kai patoehkung mah kai khaeah, Anih nuiah kacuk, anghum tathuk Muithla to na hnuk nahaeloe, Anih loe Kacai Muithla hoi tuinuem ih kami ah ni oh, tiah ang thuih.
33Về phần ta, ta vốn không biết Ngài; nhưng Đấng sai ta làm phép báp-tem bằng nước có phán cùng ta rằng: Đấng mà ngươi sẽ thấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên trên, ấy là Đấng làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh.
34Ka hnuk ih baktiah hae kami loe Sithaw Capa ni, tiah ka taphong boeh, tiah thuih.
34Ta đã thấy, nên ta làm chứng rằng: Aáy chính Ngài là Con Đức Chúa Trời.
35Khawnbangah Johan loe a hnukbang hnik hoi nawnto angdoet;
35Ngày mai, Giăng lại ở đó với hai môn đồ mình;
36loklam ah kacaeh Jesu to a hnuk naah, Khenah, Sithaw Tuucaa! tiah thuih.
36nhìn Đức Chúa Jêsus đi ngang qua, bèn nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời!
37To lok to a hnukbang hnik mah thaih hoi naah, Jesu hnukah bang hoi ving.
37Hai môn đồ nghe lời đó, bèn đi theo Đức Chúa Jêsus.
38Anih hnukah bang kami hnik to Jesu mah hnuk naah, angqoi moe, nihnik khaeah, Timaw na pakrong hoi? tiah a naa. Nihnik mah anih khaeah, Rabbi, (Patukkung, tiah thuih koehhaih ih ni) naa ah maw na oh? tiah a naa hoi.
38Đức Chúa Jêsus vừa xây lại, thấy hai người đi theo mình, thì phán rằng: Các ngươi tìm chi? Thưa rằng: Ra-bi (nghĩa là Thầy), Thầy ở đâu?
39Anih mah nihnik khaeah, Angzoh loe, khen hoih, tiah a naa. Nihnik loe caeh hoi moe, anih ohhaih ahmuen to khet hoi, to na ni loe Anih hoi nawnto oh hoi: to nathuem ah atue hato phak tom boeh.
39Ngài phán rằng: Hãy đến xem. Vậy, hai người đi, thấy nơi Ngài ở, và ở lại cùng Ngài trong ngày đó; lúc bấy giờ độ chừng giờ thứ mười.
40Johan mah thuih ih lok thaih, Anih hnukah bang kami hnik thung ih maeto loe, Simon Piter ih amnawk Andru ni.
40Trong hai người đã nghe điều Giăng nói và đi theo Đức Chúa Jêsus đó, một là Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ.
41Andru loe amya Simon to pakrong hamloe moe, anih khaeah, Messiah (Kri, tiah thuih koehhaih ih ni) to ka hnuk o boeh, tiah a naa.
41Trước hết người gặp anh mình là Si-môn, thì nói rằng: Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Christ).
42Anih mah amya to Jesu khaeah caeh haih. Jesu mah anih to khet moe, Nang loe Jona capa Simon: Cepha (thlung, tiah thuih koehhaih ih ni,) tiah kawk tih boeh, tiah a naa.
42Người bèn dẫn Si-môn đến cùng Đức Chúa Jêsus. Ngài vừa ngó thấy Si-môn, liền phán rằng: Ngươi là Si-môn, con của Giô-na; ngươi sẽ được gọi là Sê-pha (nghĩa là Phi-e-rơ).
43Jesu loe khawnbangah Kalili ah caeh han amsak, Philip to a hnuk naah anih khaeah, Ka hnukah bangah, tiah a naa.
43Qua ngày sau, Đức Chúa Jêsus muốn qua xứ Ga-li-lê, tìm Phi-líp, mà phán rằng: Hãy theo ta.
44Philip loe Andru hoi Piter baktih toengah Bethsaida vangpui ih kami ah oh.
44Vả, Phi-líp là người Bết-sai-đa, đồng thành với Anh-rê và Phi-e-rơ.
45Philip mah Nathanael to hnuk naah anih khaeah, Kaicae loe Mosi ih kaalok hoi tahmaanawk mah tarik ih, Joseph capa, Nazareth Jesu to ka hnuk o boeh, tiah a naa.
45Phi-líp gặp Na-tha-na-ên, nói với người rằng: Chúng ta đã gặp Đấng mà Môi-se có chép trong luật pháp, và các đấng tiên tri cũng có nói đến; ấy là Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, con của Giô-sép.
46Nathanael mah anih khaeah, Nazareth hoiah hmuen kahoih tacawt thai tih maw? tiah a naa. Philip mah anih khaeah, Angzoh loe khen ah, tiah a naa.
46Na-tha-na-ên nói rằng: Há có vật gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao? Phi-líp nói: Hãy đến xem.
47Philip khaeah kangzo Nathanael to Jesu mah hnuk naah, anih khaeah, Khenah, alinghaih tawn ai, Israel kami tangtang! tiah a naa.
47Đức Chúa Jêsus thấy Na-tha-na-ên đến cùng mình, bèn phán về người rằng: Nầy, một người Y-sơ-ra-ên thật, trong người không có điều dối trá chi hết.
48Nathanael mah anih khaeah, Natuek naah maw kai nang panoek loe? tiah a naa. Jesu mah anih khaeah, Philip mah na kawk ai vop, thaiduet kung tlim ah na oh naah, kang hnuk boeh, tiah a naa.
48Na-tha-na-ên thưa rằng: Bởi đâu thầy biết tôi? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trước khi Phi-líp gọi ngươi, ta đã thấy ngươi lúc ở dưới cây vả.
49To naah Nathanael mah anih khaeah, Patukkung, Nang loe Sithaw Capa, Israel Siangpahrang ni, tiah a naa.
49Na-tha-na-ên lại nói: Lạy thầy, thầy là Con Đức Chúa Trời, thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên!
50Jesu mah anih khaeah, Thaiduet kung tlim ah na oh naah, kang hnuk boeh, tiah kang naa pongah maw na tang? Hae pongah kalen kue hmuennawk to na hnu vop tih, tiah a naa.
50Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Vì ta đã phán cùng ngươi rằng ta thấy ngươi dưới cây vả, thì ngươi tin; ngươi sẽ thấy việc lớn hơn điều đó!
51Jesu mah anih khaeah, Loktang to, loktang ah, Kang thuih o, Kam-ong van to na hnu o ueloe, Kami Capa nuiah daw tahang anghum tathuk Sithaw ih van kaminawk to na hnu o tih, tiah a naa.
51Ngài lại phán: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên Con người.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.