Johan 4
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1(Jesu mah loe tuinuemhaih to paek ai, a hnukbang kaminawk mah ni paek o,) toe Jesu loe Johan pongah hnukbang kaminawk pop kue ah tawnh, kapop kue tuinuemhaih paek ti, tiah Farasinawk mah thaih o boeh, tiah Angraeng mah panoek naah,
1Khi Chúa đã hay rằng người Pha-ri-si có nghe đồn Ngài gọi và làm phép báp têm được nhiều môn đồ hơn Giăng,
no verse 2 in this text
2(k” thiệt không phải chính Đức Chúa Jêsus làm phép báp têm, nhưng là môn đồ Ngài),
3Judea prae to tacawt taak moe, Kalili ah a caeh let.
3thì Ngài lìa xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.
4To tiah a caeh naah Samaria prae thung hoiah caeh han angaih.
4Vả, Ngài phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri.
5Anih loe caeh moe, Jacob mah a capa Joseph khaeah paek ih lawk taeng ih, Samaria prae thungah kaom Sikar, tiah kawk ih avang to phak.
5Vậy Ngài đến một thành thuộc về xứ Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần đồng ruộng mà Gia-cốp cho Giô-sép là con mình.
6To ahmuen ah loe Jacob mah takaeh ih tuikhaw to oh, Jesu loe kholong caeh angpho pongah tuikhaw nuiah anghnut: to naah atue tarukto thuemtham oh boeh.
6Tại đó có cái giếng Gia-cốp. Nhân đi đường mỏi mệt, Đức Chúa Jêsus ngồi gần bên giếng; bấy giờ độ chừng giờ thứ sáu.
7Samaria nongpata maeto loe tuidok hanah angzoh: Jesu mah anih khaeah, Naek han tui na paek ah, tiah a naa.
7Một người đàn bà Sa-ma-ri đến múc nước. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy cho ta uống.
8(A hnukbang kaminawk loe buh qan hanah avang ah caeh o.)
8Vì môn đồ Ngài đã đi ra phố đặng mua đồ ăn.
9Samaria nongpata mah anih khaeah, Judah kami maeto ah na oh to mah, kawbangmaw Samaria nongpata, kai khaeah naek han tui nang hnik loe? Judahnawk loe Samari kaminawk hoi angkom o ai bae, tiah a naa.
9Người đàn bà Sa-ma-ri thưa rằng: Uûa kìa! ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đàn bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân Sa-ma-ri.)
10Jesu mah nongpata khaeah, Tui naek han na paek ah, tiah nang khaeah lokthui kami, Sithaw ih tangqum to na panoek soe nahaeloe, nang mah ni anih khaeah na hni ueloe, anih mah hinghaih tui to na paek tih, tiah a naa.
10Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Đức Chúa Trời, và biết người nói: “Hãy cho ta uống” là ai, thì chắc ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống.
11Nongpata mah anih khaeah, Patukkung, nang loe tui sohhaih tidoeh na tawn ai, tuikhaw loe thuk parai bae: to hinghaih tui loe naa hoiah maw na hnu tih?
11Người đàn bà thưa: Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi đâu có nước sống ấy?
12Nang loe kaicae ampa Jakob pongah na len kue maw? Anih loe angmah doeh, a caanawk hoi a pacah ih moinawk mah doeh naek o ih, tuikhaw to kaicae hanah ang paek, tiah a naa.
12Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp để giếng nầy lại cho chúng tôi, chính người uống giếng nầy, cả đến con cháu cùng các bầy vật người nữa, vậy Chúa há lớn hơn Gia-cốp sao?
13Jesu mah anih khaeah, Mi kawbaktih doeh hae tui nae kami loe tui anghae let tih:
13Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi;
14toe mi kawbaktih doeh anih ka paek han koi tui nae kami loe, natuek naah doeh tui anghae mak ai boeh; anih ka paek han koi tui loe, anih thungah kalong dungzan kahing tuibap ah om tih, tiah a naa.
14nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời.
15Nongpata mah anih khaeah, Patukkung, tui kang haeh han ai, haeah tuidok han ai ah, to tui to na paek khae, tiah a naa.
15Người đàn bà thưa: Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa.
16Jesu mah anih khaeah, Caeh ah loe, na sava to kawk pacoengah, haeah angzo ah, tiah a naa.
16Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi trở lại đây.
17To naah nongpata mah, Sava ka tawn ai, tiah a naa. Jesu mah nongpata khaeah, Sava ka tawn ai, tiah na thuih ih lok loe amsoem:
17Người đàn bà thưa rằng: Tôi không có chồng. Đức Chúa Jêsus lại phán: Ngươi nói rằng: Tôi không có chồng, là phải lắm;
18sava pangato na tawnh boeh; vaihi na tawnh ih nongpa doeh na sava na ai ni: na thuih ih lok loe amsoem, tiah a naa.
18vì ngươi đã có năm đời chồng, còn người mà ngươi hiện có, chẳng phải là chồng ngươi; điều đó ngươi đã nói thật vậy.
19Nongpata mah anih khaeah, Patukkung, nang loe tahmaa maeto ah na oh, tito kang panoek.
19Người đàn bà thưa rằng: Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri.
20Kaicae ampanawk loe hae mae ah sithaw bok o; nangcae mah loe Jerusalem ah ni kaminawk mah Sithaw bok han oh, tiah na thuih o, tiah a naa.
20Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem.
21Jesu mah anih khaeah, Nongpata, Kai hae na tang ah, hae mae ah na ai, Jerusalem ah doeh na ai ah, Pa na bok o haih atue to phak tom boeh.
21Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem.
22Nangcae loe na panoek o ai ih hmuen to na bok o: kaicae loe panoek ih hmuen to ni ka bok o: pahlonghaih loe Judahnawk ih ni.
22Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến.
23Toe Sithaw bok kaminawk mah Pa to Muithla hoi loktang ah bokhaih atue to pha tih, vaihi doeh phak boeh: Ampa loe to tiah Anih bok kaminawk to ni pakrong.
23Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy.
24Sithaw loe Muithla ah oh: Anih bok kaminawk loe Muithla hoi loktang ah bok o han oh, tiah a naa.
24Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.
25Nongpata mah anih khaeah, Kri, tiah kawk ih Messiah angzo tih, tito ka panoek: anih angzoh naah loe kaicae hanah hmuennawk to thui boih tih, tiah a naa.
25Người đàn bà thưa: Tôi biết rằng Đấng Mê-si (nghĩa là Đấng Christ) phải đến; khi Ngài đã đến, sẽ rao truyền mọi việc cho chúng ta.
26To naah Jesu mah anih khaeah, Nang khaeah lokthui Kai loe Anih to boeh ni, tiah a naa.
26Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó.
27To nathuem ah a hnukbang kaminawk to phak o, nongpata hoi lok kapae Anih to hnuk o naah dawnrai o: toe mi mah doeh timaw na koeh? To tih ai boeh loe tikhoe nongpata hoiah lok na paeh loe? tiah dueng o ai.
27Khi đó, môn đồ tới, đều sững sờ về Ngài nói với một người đàn bà; nhưng chẳng ai hỏi rằng: Thầy hỏi người ấy điều chi? hay là: Sao thầy nói với người?
28To nongpata loe tui laom to caehtaak moe, avang thungah caeh pacoengah, kaminawk khaeah,
28Người đàn bà bèn bỏ cái vò của mình lại và vào thành, nói với người tại đó rằng:
29angzo oh loe, ka sak ih hmuennawk boih thui kami to khen oh: hae kami loe Kri na ai maw? tiah a naa.
29Hãy đến xem một người đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm; ấy chẳng phải là Đấng Christ sao?
30Kaminawk loe avang thung hoiah tacawt o moe, anih khet hanah caeh o.
30Chúng bèn từ trong thành ra và đến cùng Đức Chúa Jêsus.
31To naah a hnukbang kaminawk mah, Patukkung, buhcaa raeh, tiah a naa o.
31Song le, môn đồ nài nỉ một bên Ngài mà rằng: Thưa thầy, xin hãy ăn.
32Toe anih mah nihcae khaeah, Na panoek o ai ih buhcaak han ka tawnh, tiah a naa.
32Ngài đáp rằng: Ta có một thứ lương thực để nuôi mình mà các ngươi không biết.
33To pongah a hnukbang kaminawk mah, Kami maeto mah caak han buh sinh pae mue, tiah maeto hoi maeto thuih o.
33Vậy môn đồ nói với nhau rằng: Có ai đã đem chi cho thầy ăn chăng?
34Jesu mah nihcae khaeah, Kai patoehkung koehhaih to sak moe, anih ih tok sak pacoeng pae haih loe, Kai ih buh ah oh.
34Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài.
35Khrah palito pacoengah loe cang aah han khawt boeh, tiah na thuih o na ai maw? Khenah, kang thuih o, Mikpadai oh loe, lawknawk ho khen o noek ah; caang aah han hmin boeh.
35Các ngươi há chẳng nói rằng còn bốn tháng nữa thì tới mùa gặt sao? Song ta nói với các ngươi: Hãy nhướng mắt lên và xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt.
36Cang aat kami loe atho to hnuk moe, dungzan hing hanah athaih to pakhrik: to naah ni caang tuh kami hoi aat kami to anghoe hoi hmaek tih.
36Con gặt đã lãnh tiền công mình và thâu chứa hoa lợi cho sự sống đời đời, hầu cho người gieo giống và con gặt được cùng nhau vui vẻ.
37Kami maeto mah patit moe, maeto mah aah, tiah thuih ih lok loe amsoem.
37Vì đây người ta có thể nói rằng: Người nầy thì gieo, người kia thì gặt, là rất phải.
38Tok na sah o ai ih lawk ah cang aah hanah kang patoeh o: kalah kaminawk mah toksak o, nangcae loe nihcae toksakhaih thungah na kun o, tiah a naa.
38Ta đã sai các ngươi gặt nơi mình không làm; kẻ khác đã làm, còn các ngươi thì đã vào tiếp lấy công lao của họ.
39Nongpata mah, Ka sak ih hmuennawk ang thuih boih, tiah thuih pongah to avang thung ih paroeai Samaritan kaminawk mah Anih to tang o.
39Có nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì cớ lời đàn bà đã làm chứng về Ngài mà rằng: Ngài đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm.
40Samaritan kaminawk anih khaeah caeh o naah, nihcae khaeah cam pae hanah Anih to tahmenhaih hnik o, to pongah nihcae khaeah ni hnetto a cam pae.
40Vậy, các người Sa-ma-ri đã đến cùng Ngài, xin Ngài vào trọ nơi mình; Ngài bèn ở lại đó hai ngày.
41Anih mah thuih ih lok pongah paroeai kaminawk mah tanghaih to tawnh o;
41Khi đã nghe lời Ngài rồi, người tin Ngài càng đông hơn nữa.
42nihcae mah to nongpata khaeah, Nang mah thuih ih lok pongah na ai ni, kaimacae khaeh mah anih ih lok to ka thaih o moe, hae kami loe long pahlongkung, Kri ni, tiah ka panoek o pongah ni, vaihi ka tang o, tiah a naa o.
42Họ nói với người đàn bà rằng: Aáy không còn phải vì điều ngươi đã nói với chúng ta mà chúng ta tin đâu; vì chính chúng ta đã nghe Ngài, và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian.
43Toah ni hnetto cam pacoengah, Kalili bangah a caeh.
43Khỏi hai ngày ấy, Đức Chúa Jêsus từ đó đi qua xứ Ga-li-lê
44Tahmaa loe angmah prae ah pakoeh ah om vai ai, tiah Jesu angmah khaeh mah thuih.
44(vì chính Ngài đã phán rằng một người tiên tri chẳng bao giờ được tôn kính trong quê hương mình).
45Anih Kalili ah phak naah, Kalili kaminawk mah anih to dawt o, nihcae doeh poihkung ah caeh o toeng, Jerusalem poihkung ah Anih mah sak ih hmuennawk to nihcae mah hnuk o boih.
45Khi đã đến xứ Ga-li-lê, Ngài được dân xứ ấy tiếp rước tử tế, bởi dân đó đã thấy mọi điều Ngài làm tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày lễ; vì họ cũng có đi dự lễ.
46Jesu loe tui misurtui ah angcoengsakhaih, Kalili prae thung ih Kana avang ah caeh let. Kapernuam avang ah a capa nganna angraeng maeto oh.
46Vậy, Ngài lại đến thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, là nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Nguyên ở tại thành Ca-bê-na-um, có một quan thị vệ kia, con trai người mắc bịnh.
47Anih mah Jesu Judea prae hoi Kalili prae ah angzoh ti, tiah thaih naah, anih khaeah caeh moe, kadueh duih a capa to ngantuisak hanah tahmenhaih hnik.
47Quan đó nghe Đức Chúa Jêsus đã từ xứ Giu-đê đến xứ Ga-li-lê, bèn tìm đến và xin Ngài xuống đặng chữa cho con mình gần chết.
48Jesu mah anih khaeah, Dawnrai hmuen hoi angmathaihnawk na hnu o ai ah loe, na tang o mak ai, tiah a naa.
48Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi không thấy phép lạ và điềm lạ, thì các ngươi chẳng tin!
49To naah angraeng mah anih khaeah, Angraeng, ka capa dueh ai naah angzo tathuk raeh, tiah a naa.
49Quan thị vệ trả lời rằng: Lạy Chúa, xin Chúa xuống trước khi con tôi chưa chết!
50Jesu mah anih khaeah, Caeh lai ah, na capa loe ngantui boeh, tiah a naa. Jesu mah thuih ih lok to a tang pongah, anih loe angmah im ah amlaem.
50Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, con của ngươi sống. Người đó tin lời Đức Chúa Jêsus đã phán cho mình, bèn đi.
51Loklam ah a caeh li naah, a tamnanawk angzoh o moe, anih khaeah, Na capa loe ngantui boeh, tiah thuih pae o.
51Người đang đi dọc đường, các đầy tớ người đến đón mà rằng: Con trai chủ sống.
52Natuek naah maw a capa ngantui let, tiah a dueng naah, Cangduem atue sarihto naah ngantui let, tiah a thuih pae o.
52Người bèn hỏi họ con trai mình đã thấy khá nhằm giờ nào. Họ trả lời rằng: Bữa qua, hồi giờ thứ bảy, cơn rét lui khỏi.
53To atue nathuem ah ni, Jesu mah anih khaeah, Na capa loe ngantui boeh, tiah a thuih pae, tito ampa mah panoek; to pongah angmah hoi a imthung takoh kaminawk boih mah tang o.
53Người cha nhận biết rằng ấy là chính giờ đó Đức Chúa Jêsus đã phán cùng mình rằng: Con của ngươi sống; thì người với cả nhà đều tin.
54Hae loe Jesu mah Judea prae hoi Kalili prae ah caeh naah, sak ih dawnrai hmuen vai hnetto haih ah oh.
54Aáy là phép lạ thứ hai mà Đức Chúa Jêsus đã làm, khi Ngài từ xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.