Johan 2
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ni thumto naah Kalili prae Kana vangpui ah zu paluemhaih poih to oh; Jesu ih amno doeh toah oh toeng:
1Cách ba ngày sau, có đám cưới tại thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, và mẹ Đức Chúa Jêsus có tại đó.
2Jesu hoi a hnukbang kaminawk doeh to zu raenghaih poihkung ah kawk o toeng.
2Đức Chúa Jêsus cũng được mời đến dự đám với môn đồ Ngài.
3Misurtui boeng ving naah, Jesu amno mah Anih khaeah, Misurtui tawn o ai boeh, tiah a naa.
3Vừa khi thiếu rượu, mẹ Đức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: Người ta không có rượu nữa.
4Jesu mah anih khaeah, Nongpata nang hoi kai timaw asaenghaih oh? Kai ih atue pha ai vop, tiah a naa.
4Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi đàn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến.
5Amno mah tamnanawk khaeah, Ang thuih o ih lok baktiah sah oh, tiah a naa.
5Mẹ Ngài nói với những kẻ hầu bàn rằng: Người biểu chi, hãy vâng theo cả.
6Judahnawk amprikcaihaih atawk baktih toengah, toah Kalan pumphaeto, to tih ai boeh loe quithumto akun, moiroih tarukto pahung o.
6Vả, tại đó có sáu cái ché đá, định dùng về sự rửa sạch cho người Giu-đa, mỗi cái chứa hai ba lường nước.
7Jesu mah nihcae khaeah, Muiroih to tui pakoih oh, tiah a naa. Nihcae mah muroih koiah tui to thaeng o.
7Đức Chúa Jêsus biểu họ rằng: Hãy đổ nước đầy những ché nầy; thì họ đổ đầy tới miệng.
8Anih mah nihcae khaeah, Vaihi tui to buek oh loe, poih khawng kacoehta khaeah sin oh, tiah a naa. A thuih ih lok baktiah nihcae mah sak pae o.
8Ngài bèn phán rằng: Bây giờ hãy múc đi, đem cho kẻ coi tiệc. Họ bèn đem cho.
9Poih khawng kacoehta mah misurtui ah angcoengsak ih tui to pataeng naah, Naa ih maw lak o tito panoek ai: (toe tui doh tamnanawk mah loe panoek o;) poih khawngkung mah zu paluem kami to kawk,
9Lúc kẻ coi tiệc nếm nước đã biến thành rượu (vả, người không biết rượu nầy đến bởi đâu, còn những kẻ hầu bàn có múc nước thì biết rõ), bèn gọi chàng rể,
10anih khaeah, Kaminawk loe misur asing tui bae hmaloe ah patoem o; kaminawk paquih o boep tih naah ni, kahoih ai misurtui to paek o vop: toe nang loe vaihi khoek to maw misur asing tui na suek vop! tiah a naa.
10mà nói rằng: Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ.
11Hae loe Jesu mah Kalili prae Kana vangpui ah sak tangsuek ih dawnrai hmuen ah oh moe, a lensawkhaih to amtuengsak; a hnukbang kaminawk mah Anih to tang o.
11Aáy là tại Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, mà Đức Chúa Jêsus làm phép lạ thứ nhất, và tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy; môn đồ bèn tin Ngài.
12To pacoengah amno, nawkamyanawk, a hnukbang kaminawk hoi nawnto Kapernuam vangpui ah caeh o: to ah ni kasawk cam o ai.
12Sau việc đó, Ngài với mẹ, anh em, và môn đồ Ngài đều xuống thành Ca-bê-na-um; và chỉ ở tại đó ít ngày thôi.
13Judahnawk ih misong loihhaih ni phak tom naah, Jesu loe Jerusalem ah caeh tahang,
13Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa hầu đến; Đức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem.
14tempul thungah maitaw, tuu, pahuu zaw kaminawk hoi phoisa athlaeng kaminawk to a hnuk:
14Trong đền thờ, Ngài thấy có người buôn bán bò, chiên, bò câu, và có người đổi bạc dọn hàng ở đó.
15Anih mah bohhaih qui tetta to sak moe, maitaw, tuu hoi to ih kaminawk to tempul thung hoiah haek boih; phoisa athlaeng kaminawk ih phoisa to kraih pae moe, caboinawk doeh pakhup pae boih;
15Ngài bện một cái roi bằng dây, bèn đuổi hết thảy khỏi đền thờ, chiên và bò nữa; vãi tiền người đổi bạc và đổ bàn của họ.
16pahuu zaw kaminawk khaeah, Hae ahmuen hoiah hae hmuennawk hae la oh; kam Pa ih im hae hmuenmae zawhhaih im ah sah o hmah, tiah a naa.
16Ngài phán cùng kẻ bán bò câu rằng: Hãy cất bỏ đồ đó khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha ta thành ra nhà buôn bán.
17To naah a hnukbang kaminawk mah, Na im palunghaih mah Kai ang caak boih boeh, tiah tarik ih lok to poek o vawk.
17Môn đồ Ngài bèn nhớ lại lời đã chép rằng: Sự sốt sắng về nhà Chúa tiêu nuốt tôi.
18To naah Judahnawk mah anih khaeah, Hae hmuennawk na sak naah, tih angmathaih maw kaicae han nang hnuksak? tiah dueng o.
18Các người Giu-đa cất tiếng thưa cùng Ngài rằng: Thầy làm như vậy thì cho chúng tôi xem thấy phép lạ chi?
19Jesu mah nihcae khaeah, Hae tempul hae phrae oh, ni thumto thungah ka padoet let han, tiah a naa.
19Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại!
20To naah Judahnawk mah, Saning quipali, tarukto thung ka sak o ih, hae tempul hae nang mah ni thumto thungah na padoet let han maw? tiah a naa o.
20Người Giu-đa lại nói: Người ta xây đền thờ nầy mất bốn mươi sáu năm, mà thầy thì sẽ dựng lại trong ba ngày!
21Toe anih mah thuih koehhaih loe angmah ih takpum tempul to ni.
21Nhưng Ngài nói về đền thờ của thân thể mình.
22Anih duekhaih hoi angthawk let naah, a hnukbang kaminawk khaeah a thuih pae ih lok to panoek o let; to pongah nihcae loe Cabu hoi Jesu mah thuih ih lok to tang o.
22Vậy, sau khi Ngài được từ kẻ chết sống lại rồi, môn đồ gẫm Ngài có nói lời đó, thì tin Kinh Thánh và lời Đức Chúa Jêsus đã phán.
23Anih Jerusalem ih misong loihhaih poihkung ah oh naah, anih mah sak ih dawnrai hmuennawk to hnuk o, to naah paroeai kaminawk mah anih ih ahmin to tang o.
23Đang lúc Ngài ở thành Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Vượt Qua, có nhiều người thấy phép lạ Ngài làm, thì tin danh Ngài.
24Toe Jesu mah kaminawk to panoek boih pongah, anih loe to kaminawk khaeah angmah hoi angmah to nihcae tlim ah angpaek ai.
24Nhưng Đức Chúa Jêsus chẳng phó thác mình cho họ, vì Ngài nhận biết mọi người,
25Kami ih palungthin to anih mah panoek pongah, mi kawbaktih mah doeh anih hanah kami kawng thuih pae han angai ai.
25và không cần ai làm chứng về người nào, bởi Ngài tự hiểu thấu mọi điều trong lòng người ta.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.