Ioane 2
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1I KE kolu o ka la, he ahaaina mare ma Kana i Galilaia; ilaila no hoi ka makuwahine o Iesu.
1Cách ba ngày sau, có đám cưới tại thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, và mẹ Đức Chúa Jêsus có tại đó.
2Ua oleloia o Iesu, a me ua haumana ana, e hele i ua ahaaina mare la.
2Đức Chúa Jêsus cũng được mời đến dự đám với môn đồ Ngài.
3A nele i ka waina, i aku la ka makuwahine o Iesu ia ia, Aohe o lakou waina.
3Vừa khi thiếu rượu, mẹ Đức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: Người ta không có rượu nữa.
4Olelo mai la Iesu ia ia, E ka wahine, o ke aha la ia ia kaua? aole i hiki mai ko'u manawa.
4Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi đàn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến.
5Olelo aka la kona makuwahine i na kauwa, O ka mea ana e olelo mai ai ia oukou, oia ka oukou e hana'i.
5Mẹ Ngài nói với những kẻ hầu bàn rằng: Người biểu chi, hãy vâng theo cả.
6E waiho ana malaila na ipuwai pohaku eono, no ka hoomaemae ana o ka poe Iudaio, he iwakalua kumamahiku, he kanaha paha na galani e piha ai ka kekahi, ka kekahi.
6Vả, tại đó có sáu cái ché đá, định dùng về sự rửa sạch cho người Giu-đa, mỗi cái chứa hai ba lường nước.
7I mai la o Iesu ia lakou, E hoopiha i na ipuwai i ka wai. Hoopina iho lakou i ua mau mea la, a piha loa.
7Đức Chúa Jêsus biểu họ rằng: Hãy đổ nước đầy những ché nầy; thì họ đổ đầy tới miệng.
8I mai hoi oia ia lakou, E hookahe mai ano, a lawe aku i ka lunaahaaina. A lawe aku la lakou.
8Ngài bèn phán rằng: Bây giờ hãy múc đi, đem cho kẻ coi tiệc. Họ bèn đem cho.
9A i ka hoao ana o ka lunaahaaina i ka wai i hooliloia i waina, aole oia i ike i kahi i loaa'i, (o na kauwa, nana i hookahe ka wai, ka i ike,) kahea aku la ka lunaahaaina i ke kanemare,
9Lúc kẻ coi tiệc nếm nước đã biến thành rượu (vả, người không biết rượu nầy đến bởi đâu, còn những kẻ hầu bàn có múc nước thì biết rõ), bèn gọi chàng rể,
10I aku la ia ia, Lawe mua mai no kela kanaka keia kanaka i ka waina maikai, a nui ko lakou inu ana, alaila i ka waina ino: ua malama ka oe i ka waina maikai, a keia manawa.
10mà nói rằng: Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ.
11Hana iho la o Iesu i keia hana mana mua ma Kana i Galilaia, a hoike ae la ia i kona nani; a manaoio aku la kana poe haumana ia ia.
11Aáy là tại Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, mà Đức Chúa Jêsus làm phép lạ thứ nhất, và tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy; môn đồ bèn tin Ngài.
12Mahope mai o keia, iho aku la ia i Kaperenauma, oia a me kona makuwahine, a me kona mau hoahanau, a me kana poe haumana, aohe nui na la i noho ai lakou malaila,
12Sau việc đó, Ngài với mẹ, anh em, và môn đồ Ngài đều xuống thành Ca-bê-na-um; và chỉ ở tại đó ít ngày thôi.
13Ua kokoke mai ka moliaola a na Iudaio; a pii aku la o Iesu i Ierusalema,
13Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa hầu đến; Đức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem.
14A loaa aku la ia ia ka poe e kuai ana i na bipi, a me na hipa, a me na manu nunu, a me ka poe kuai kala, e noho ana iloko o ka luakini.
14Trong đền thờ, Ngài thấy có người buôn bán bò, chiên, bò câu, và có người đổi bạc dọn hàng ở đó.
15Hana iho la ia i mea hahau no na kaula liilii, a hookuke aku la oia ia lakou a pau iwaho o ka luakini, a me na hipa, a me na bipi; lu aku la i na kala o ka poe kuai kala, a hookahuli i na papa;
15Ngài bện một cái roi bằng dây, bèn đuổi hết thảy khỏi đền thờ, chiên và bò nữa; vãi tiền người đổi bạc và đổ bàn của họ.
16Olelo mai la ia i ka poe kuai mana nunu, E lawe ae i keia mau mea mai keia wahi aku; mai hoolilo oukou i ka hale o ko'u Makua i hale kuai.
16Ngài phán cùng kẻ bán bò câu rằng: Hãy cất bỏ đồ đó khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha ta thành ra nhà buôn bán.
17Hoomanao iho la kana poe haumana i ka mea i palapalaia, O ka manao nui i kou hale ka mea e ai mai nei ia'u.
17Môn đồ Ngài bèn nhớ lại lời đã chép rằng: Sự sốt sắng về nhà Chúa tiêu nuốt tôi.
18Ninau aku la na Iudaio ia ia, i aku la, Heaha ka hoailona au e hoike mai ai ia makou, i hana ai oe i neia mau mea?
18Các người Giu-đa cất tiếng thưa cùng Ngài rằng: Thầy làm như vậy thì cho chúng tôi xem thấy phép lạ chi?
19Olelo mai la o Iesu ia lakou, E wawahi oukou i keia luakini, a e kukulu hou aku au ia i na la ekolu.
19Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại!
20Alaila olelo aku la na Iudaio, Hookahi kanaha makahiki a me kumamaono ka hana ana o keia luakini, a e kukulu hou auei oe ia mea i na la ekolu?
20Người Giu-đa lại nói: Người ta xây đền thờ nầy mất bốn mươi sáu năm, mà thầy thì sẽ dựng lại trong ba ngày!
21O kona kino iho no ka luakini ana i olelo mai ai.
21Nhưng Ngài nói về đền thờ của thân thể mình.
22A ala mai oia mai ka make mai, hoomanao iho la kana poe haumana, ua olelo oia i keia mea; a manaoio iho la lakou i ka palapala hemolele, a me ka olelo a Iesu i olelo mai ai.
22Vậy, sau khi Ngài được từ kẻ chết sống lại rồi, môn đồ gẫm Ngài có nói lời đó, thì tin Kinh Thánh và lời Đức Chúa Jêsus đã phán.
23A i kona noho ana ma Ierusalema i ka ahaaina moliaola, he nui loa na mea i manaoio i kona inoa, i ko lakou ike aua i na hana mana ana i hana'i,
23Đang lúc Ngài ở thành Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Vượt Qua, có nhiều người thấy phép lạ Ngài làm, thì tin danh Ngài.
24Aka, aole o Iesu i kuu aku ia ia iho no lakou, no ka mea, ua ike no oia ia lakou a pau,
24Nhưng Đức Chúa Jêsus chẳng phó thác mình cho họ, vì Ngài nhận biết mọi người,
25Aole ona hemahema e pono ai ke hoike aku kekahi ia ia i ko ke kanaka: no ka mea, ua ike no ia i ko loko o kanaka.
25và không cần ai làm chứng về người nào, bởi Ngài tự hiểu thấu mọi điều trong lòng người ta.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.