Ioane 18
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A PAU ae ka Iesu olelo ana i keia mau mea, hele aku ia ia me kaua poe haumana ma keia aoao o ke kahawai o Kederona, malaila kekahi mala, komo aku la ia ilaila, a me kana poe haumana.
1Sau khi phán những điều ấy, Đức Chúa Jêsus đi với môn đồ mình sang bên kia khe Xết-rôn; tại đó có một cái vườn, Ngài bèn vào, môn đồ cũng vậy.
2Ua ike no o Iuda, nana ia i kumakaia, ia wahi; no ka mea, ua halawai pinepine aku o Iesu malaila mo kana poo haumana.
2Vả, Giu-đa là kẻ phản Ngài, cũng biết chỗ nầy, vì Đức Chúa Jêsus thường cùng môn đồ nhóm họp tại đó.
3A loaa ia Iuda kekahi poe koa a me na ilamuku no na kahuna nui, a no na Parisaio, hele aku la ia ilaila me na lama, a me ua ipukukui a me na mea kaua.
3Vậy, Giu-đa lãnh một cơ binh cùng những kẻ bởi các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si sai đến, cầm đèn đuốc khí giới vào nơi đó.
4Ike no o Iesu i na mea a pau e hiki mai ana maluna ona, a hele mai, a niuau mai la ia lakou, Owai ka oukou mea e imi nei?
4Đức Chúa Jêsus biết mọi điều sẽ xảy đến cho mình, bèn bước tới mà hỏi rằng: Các ngươi tìm ai?
5I aku la lakou ia ia, O Iesu no Nazareta. I mai la o Iesu ia lakou, Owau no ia. O Iuda, naua ia i kumakaia, ku pu iho ia me lakou.
5Chúng trả lời rằng: Tìm Jêsus người Na-xa-rét. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Chính ta đây! Giu-đa là kẻ phản Ngài cũng đứng đó với họ.
6A i kana i ana mai, Owau no ia, emi hope aku la lakou, a hina iho la ma ka honua.
6Vừa khi Đức Chúa Jêsus phán: Chính ta đây, chúng bèn thối lui và té xuống đất.
7Ninau hou mai la o Iesu ia lakou, Owai ka oukou mea e imi nei? I aku la lakou, O Iesu no Nazereta.
7Ngài lại hỏi một lần nữa: Các ngươi tìm ai? Chúng trả lời rằng: Tìm Jêsus người Na-xa-rét.
8Olelo mai la o Iesu ia lakou, Ua hai aku au ia oukou, Owau no ia. Ina hoi owau ka oukou e imi mai nei, o kuu aku ia lakou nei e hele aku:
8Đức Chúa Jêsus lại phán: Ta đã nói với các ngươi rằng chính ta đây; vậy nếu các ngươi tìm bắt ta, thì hãy để cho những kẻ nầy đi.
9I ko ai ka olelo ana i olelo mai ai, O ka poe au i haawi mai ia'u, aole kekahi o lakou i lilo aku mai o'u aku nei.
9Aáy để được ứng nghiệm lời Ngài đã phán: Con chẳng làm mất một người nào trong những kẻ mà Cha đã giao cho Con.
10He pahikaua ka Simona petero, unuhi ae la oia ia mea, a hahau iho i ko kauwa a ke kahuna nui, a oki aku la i kona pepeiao akau. O Maleko ka inoa o ua kauwa la.
10Bấy giờ, Si-môn Phi-e-rơ có một thanh gươm, bèn rút ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt tai bên hữu. Đầy tớ đó tên là Man-chu.
11Alaila i mai la o Iesu ia Petero, E hoihoi i kau pahikaua i ka wahi: o ke kiaha a ko'u Makua i haawi mai ia'u, aole anei au e inu ia mea?
11Nhưng Đức Chúa Jêsus phán cùng Phi-e-rơ rằng: Hãy nạp gươm ngươi vào vỏ; ta há chẳng uống chén mà Cha đã ban cho ta uống sao?
12Alaila o ka poe koa, a me ka lunakoa, a me na ilamuku o na Iudaio, hopu aku la lakou ia Iesu, a nakii ia ia,
12Bấy giờ, cả cơ binh, người quản cơ và những kẻ sai của dân Giu-đa bắt Đức Chúa Jêsus trói lại.
13A alakai aku la ia ia io Anasa la mamua: no ka mea, oia ka makuahouowaikane o Kaiapa, o ke kahuna nui ia makahiki.
13Trước hết chúng giải Ngài đến An-ne; vì người nầy là ông gia Cai-phe làm thầy cả thượng phẩm đương niên.
14O Kaiapa keia nana i ao aku i na Iudaio, he pono no e make kekahi kanaka no ka lahuikanaka.
14Vả, Cai-phe là người đã bàn với dân Giu-đa rằng: Thà một người chết vì dân thì ích hơn.
15A hahai aku la o Simona Petero a me kekahi haumana ia Iesu. A o na baumana la na ikeia oia e ke kahuna nui, a komo pu aku la ia me Iesu iloko o ka pahale o ke kahuna nui.
15Si-môn Phi-e-rơ với một môn đồ khác theo sau Đức Chúa Jêsus. Môn đồ đó có quen với thầy cả thượng phẩm, nên vào với Đức Chúa Jêsus trong sân thầy cả thượng phẩm.
16Ku ae la o Petero ma ka puka iwaho. Alaila hoi aku la kela haumana iwaho, ka mea i ikeia e ke kahuna nui, i aku la i ke kiaipuka e hookomo ia Petero.
16Song Phi-e-rơ đứng ngoài, gần bên cửa. Môn đồ kia, tức là người quen với thầy cả thượng phẩm, đi ra nói cùng người đàn bà canh cửa, rồi đem Phi-e-rơ vào.
17Alaila ninau mai la ke kaikamahine kiaipuka ia Petero, Aole anei oe kekahi o na haumana a keia kanaka? I aku la ia, Aole au.
17Bấy giờ, con đòi đó, tức là người canh cửa, nói cùng Phi-e-rơ rằng: Còn ngươi, cũng là môn đồ của người đó, phải chăng? Người trả lời rằng: Ta chẳng phải.
18A ku ae la na kauwa a me na ilamuku me ke ahi lanahu a lakou i hoaa ai, no ka mea, na anu; a hoopumahana ia lakou iho: ku ae la hoi o Petero me lakou, a hoomahana ia ia iho.
18Các đầy tớ và kẻ sai vì trời lạnh, nhúm một đống lửa, rồi đứng gần một bên mà sưởi. Phi-e-rơ đứng với họ, và cũng sưởi.
19Alaila ninau aku la ke kahuna nui ia Iesu no kana poe haumana, a no kana mea i ao ai.
19Vậy, thầy cả thượng phẩm gạn hỏi Đức Chúa Jêsus về môn đồ Ngài và đạo giáo Ngài.
20I mai la o Iesu ia ia, Ua olelo hoike aku au i ko ke ao nei; ua ao mau aku au iloko o na halehalawai, a iloko o ka luakini, kahi i akoakoa ai na Iudaio a pau; aohe mea a'u i ao aku ai ma kahi main.
20Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta từng nói rõ ràng cùng thiên hạ; ta thường dạy dỗ trong nhà hội và đền thờ, là nơi hết thảy dân Giu-đa nhóm lại, chớ ta chẳng từng nói kín giấu điều gì.
21No ke aha la oe e ninau mai ai ia'u? o ninau aku oe i ka poe i lohe i ka mea a'u i olelo aku ai ia lakou; aia hoi, ua ike uo lakou i na mea a'u i olelo ai.
21Cớ sao ngươi gạn hỏi ta? Hãy hỏi những kẻ đã nghe ta nói điều chi với họ; những kẻ đó biết điều ta đã nói.
22A i kana olelo ana ia mau mea, papai aku la ia Iesu kekahi o na ilamuku e ku ana, i aku la, Pela anei oe e olelo aku ai i ke kahuna nui?
22Ngài đang phán như vậy, có một người trong những kẻ sai có mặt tại đó, cho Ngài một vả, mà rằng: Ngươi dám đối đáp cùng thầy cả thượng phẩm dường ấy sao?
23I mai la o Iesu ia ia, Ina ua hewa ka'u olelo, o hoike mai oe i ka hewa; aka, ina ua maikai, uo ke aha la e papai mai oe ia'u?
23Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ví thử ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho ta xem; nhược bằng ta nói phải, làm sao ngươi đánh ta?
24Ua hoouna e mai la o Anasa ia ia e paa ana io Kaiapa la, i ke kahuna nui.
24An-ne bèn sai giải Đức Chúa Jêsus vẫn bị trói đến Cai-phe là thầy cả thượng phẩm.
25Ku ae la Simona Petero, a hoopumahana ia ia iho. Ninau ae la lakou ia ia, Aole anoi oe kekahi o kana poe haumana? Hoole mai la no ia, i mai la, Aole au.
25Vả lại, Si-môn Phi-e-rơ đang đứng sưởi đằng kia, thì có kẻ hỏi người rằng: Còn ngươi, ngươi cũng là môn đồ người phải không? Người chối đi mà trả lời rằng: Ta không phải.
26I aku la kekahi o na kauwa a ke kahuna nui, ka hoahanau o ka mea nona ka pepeiao a Petero i oki ai, Aole anei au i ike ia oe ma ka mala me ia?
26Một người đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, bà con với người mà Phi-e-rơ chém đứt tai, nói rằng: Ta há chẳng từng thấy ngươi ở trong vườn với người sao?
27Hoole hou mai la no o Petero: a kani koke mai la ka mea.
27Phi-e-rơ lại chối một lần nữa; tức thì gà gáy.
28Alaila alakai aku la lakou ia Iesu mai Kaiapa aku, a hiki i kahi hookolokolo; a ua ao. Aole lakou i komo maloko o kahi hookolokolo, o haumia lakou, a pono ole ke ai i ka moliaola.
28Kế đó, chúng điệu Đức Chúa Jêsus từ nhà Cai-phe đến trường án; bấy giờ đang sớm mai. Nhưng chính mình chúng không vào nơi trường án, cho khỏi bị ô uế, và cho được ăn lễ Vượt Qua.
29No ia hoi, hele mai la o Pilato iwaho io lakou la, ninau mai la, Heaha ka hewa a oukou e hoahewa ai i keia kanaka?
29Vậy, Phi-lát bước ra, đi đến cùng chúng mà hỏi rằng: Các ngươi kiện người nầy về khoản gì?
30Olelo aku la lakou, i aku la ia ia, Ina aole he lawehala keia, ina aole makou i haawi ia ia ia oe.
30Thưa rằng: Ví chẳng phải là tay gian ác, chúng tôi không nộp cho quan.
31Alaila i mai la o Pilato ia lakou, E lawe oukou ia ia, a e hoopai aku ia ia ma ko oukou kanawai. I aku la hoi na Iudaio ia ia, Aole o makou e pono ke pepehi aku i kekahi kanaka.
31Phi-lát bèn truyền cho chúng rằng: Các ngươi hãy tự bắt lấy người, và xử theo luật mình. Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi chẳng có phép giết ai cả.
32Pela i ko ai ka olelo a Iesu i i mai ai e hoike ana i ke ano o ka make o make ai oia.
32Aáy là cho được ứng nghiệm lời Đức Chúa Jêsus đã phán, để chỉ về mình phải chết cách nào.
33Alaila komo hou aku la o Pilato i kahi hookolokolo, a hoa aku la ia Iesu, a ninau aku la ia ia, O oe anei ke alii o na Iudaio?
33Phi-lát bèn vào trường án, truyền đem Đức Chúa Jêsus đến, mà hỏi rằng: Chính ngươi là Vua dân Giu-đa, phải chăng?
34Olelo mai la o Iesu ia ia, Nau wale iho no anei keia au e ninau mai nei, a na hai anei i olelo mai ia oe no'u?
34Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi nói điều đó tự ý mình, hay là có người đã nói điều đó với ngươi về ta?
35Olelo aku la o Pilato, He Iudaio anei au? Na kou lahuikanaka a na ua kahuna nui oe i haawi mai ai ia'u nei. Heaha kau i hana'i?
35Phi-lát trả lời rằng: Nào có phải ta là người Giu-đa đâu? Dân ngươi cùng mấy thầy tế lễ cả đã nộp ngươi cho ta; vậy ngươi đã làm điều gì?
36I mai la o Iesu, Aole no keia ao ko'u aupuni. Ina no keia ao ko'u aupuni, ina ua kaua aku ko'u poe kanaka, i ole ai e haawiia aku au i na Iudaio; aka hoi, aole no keia ao ko'u aupuni.
36Đức Chúa Jêsus đáp lại rằng: Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy. Ví bằng nước ta thuộc về thế gian nầy, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận, đặng ta khỏi phải nộp cho dân Giu-đa; nhưng hiện nay nước ta chẳng thuộc về hạ giới.
37No ia hoi, ninau aku la o Pilato ia ia. He alii no anei oe? I mai la o Iesu. Ke olelo mai nei oe, he alii wau. No keia mea i hanau mai ai au, a no ia hoi i hele mai ai au i ke ao nei, i hoike aku ai au i ka oiaio. O ka mea no ka oiaio, oia ke hoolohe i ko'u leo.
37Phi-lát bèn nói rằng: Thế thì ngươi là vua sao? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời, ta là vua. Nầy, vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta.
38Ninau aku la o Pilato ia ia, Heaha la ka oiaio? A i kana olelo ana i keia, hele hou mai la ia mawaho i na Iudaio, a i mai la ia lakou, Aole i loaa ia'u ka hewa iki iloko ona.
38Phi-lát hỏi rằng: Lẽ thật là cái gì? Khi người đã nói vậy, rồi lại đi ra đến cùng dân Giu-đa, mà rằng: Ta chẳng thấy người có tội lỗi gì cả.
39Aka, he mea mau no ia oukou i hookuu aku ai au i kekahi kanaka no oukou i ka moliaola: ke makemake nei anei oukou e hookuu aku wau no oukou i ke alii o na Iudaio?
39Nhưng các ngươi có lệ thường, hễ đến ngày lễ Vượt Qua, thì ta tha cho các ngươi một tên tù, vậy các ngươi có muốn ta tha Vua dân Giu-đa cho chăng?
40Alaila hea nui hou aku la lakou a pau, i ka i ana'ku, Aole o keia kanaka, aka, o Baraba. He powa no o Baraba.
40Chúng bèn kêu lên nữa rằng: Đừng tha nó, nhưng tha Ba-ra-ba! Vả, Ba-ra-ba là một kẻ trộm cướp.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.