Ioane 20
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1I KA la mua o ka hebedoma, i kakahiaka nui, e ponli ana no, hele mai la o Maria Magedalene i ka halekupapau, a ike ae la ia i ka pohaku i huliia'e mai ka halekupapau aku.
1Ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc rạng đông, trời còn mờ mờ, Ma-ri Ma-đơ-len tới mộ, thấy hòn đá lấp cửa mộ đã dời đi.
2Nolaila, holo aku la ia a hiki io Simona Petero la, a me kekahi haumana a Iesu i aloha ai, i aku la ia laua, Ua lawe aku lakou i ka Haku mai ka halekupapau aku, aole makou i ike i kahi i waiho ai lakou ia ia.
2Vậy, người chạy tìm Si-môn Phi-e-rơ và môn đồ khác, là người Đức Chúa Jêsus yêu, mà nói rằng: Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài tại đâu.
3Alaila, hele aku la o Petero a me kela haumana, a hiki ma ka halekupapau.
3Phi-e-rơ với môn đồ khác bèn bước ra, đi đến mồ.
4Holo pu aku la laua; a mama aku la ua haumana la ia Petero, a hiki mua i ka halekupapau.
4Cả hai đều chạy, nhưng môn đồ kia chạy mau hơn Phi-e-rơ, và đến mồ trước.
5Kulou iho la ia, a ike ae la i ka lole olona e waiho ana, aole nae i komo iloko.
5Người cúi xuống, thấy vải bỏ dưới đất; nhưng không vào.
6Alaila, hiki mai o Simona Petero e hahai ana mahope ona, a komo iho la iloko o ka halekupapau, a ike aku la i ka lole olona e waiho ana,
6Si-môn Phi-e-rơ theo đến, vào trong mộ, thấy vải bỏ dưới đất,
7A me ka hainaka i kaeiia'i kona poo, aole e waiho pu ana me ka lole olona, aka, ua opeopeia ma kahi e.
7và cái khăn liệm trùm đầu Đức Chúa Jêsus chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi khác.
8A komo aku la no hoi ua haumana la, ka mea i hiki mua ma ka halekupapau, a ike aku la, a manaoio iho la.
8Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mộ trước, cũng bước vào, thì thấy và tin.
9No ka mea, ia manawa aole lakou hoomaopopo i ka palapala hemolele, e pono ke ala hou ia mai ka make mai.
9Vì chưng hai người chưa hiểu lời Kinh Thánh rằng Đức Chúa Jêsus phải từ kẻ chết sống lại.
10Alaila hoi aku la na haumana i ko laua wahi iho.
10Đoạn, hai môn đồ trở về nhà mình.
11Aka, ku ae la o Maria ma ka halekupapau mawaho e uwe ana. A i kona uwe ana, kulou iho la i ka halekupapau,
11Song Ma-ri đứng bên ngoài, gần mộ, mà khóc. Người vừa khóc, vừa cúi xuống dòm trong mộ,
12A ike iho la i na anela elua i kahikoia i ke kapa keokeo e noho ana, ma ke poo kekahi, a ma ka wawae kekahi, ma kahi i waihoia'i ke kino o Iesu.
12thấy hai vị thiên sứ mặc áo trắng, một vị ngồi đằng đầu, một vị ngồi đằng chân, chỗ xác Đức Chúa Jêsus đã nằm.
13I mai la laua ia ia, E ka wahine, no ke aha la oe e uwe ai? I aku la oia ia laua, No ka mea, ua lawe aku lakou i kuu Haku, aole au i ike i kahi i waiho ai lakou ia ia.
13Hai thiên sứ hỏi: Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc? Người thưa rằng: Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu.
14Pau kana olelo ana ia mau mea, huli ae la ia ihope, a ike aku la ia Iesu e ku ana, aole nae oia i ike, o Iesu ia.
14Vừa nói xong, người xây lại thấy Đức Chúa Jêsus tại đó; nhưng chẳng biết ấy là Đức Chúa Jêsus.
15I mai la o Iesu ia ia, E ka wahine, no ke aha la oe e uwe ai? ia wai la oe e imi nei? Manao iho la ia, o ka mea ia nana i malama ka mala, i aku la ia ia, E ka haku, ina ua lawe aku oe ia ia, e hai mai oe ia'u i kahi i waiho ai oe ia ia, a na'u no ia e lawe aku.
15Đức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc? Ngươi tìm ai? Người ngỡ rằng đó là kẻ làm vườn, bèn nói rằng: Hỡi chúa, ví thật ngươi là kẻ đã đem Ngài đi, xin nói cho ta biết ngươi để Ngài đâu, thì ta sẽ đến mà lấy.
16I mai la o Iesu ia ia, E Maria. Haliu ae la ia, i aku la ia ia, E Raboni; oia keia olelo, E ke Kumu.
16Đức Chúa Trời phán rằng: Hỡi Ma-ri! Ma-ri bèn xây lại, lấy tiếng Hê-bơ-rơ mà thưa rằng: Ra-bu-ni (nghĩa là thầy)!
17I mai la o Iesu ia ia, Mai hoopa mai oe ia'u; no ka mea, aole au i pii aku i ko'u Makua: aka, e hele oe i ko'u poe hoahanan, e i aku ia lakou, E pit ana au i ko'u Makua, a i ko oukou Makua; a i ko'u Akua, a i ko oukou Akua.
17Đức Chúa Jêsus phán rằng: Chớ rờ đến ta; vì ta chưa lên cùng Cha! Nhưng hãy đi đến cùng anh em ta, nói rằng ta lên cùng Cha ta và Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời ta và Đức Chúa Trời các ngươi.
18Hele aku la o Maria Magedalene, a olelo aku la i na haumana, ua ike ia i ka Haku, a ua olelo mai oia i keia mau mea ia ia.
18Ma-ri Ma-đơ-len đi rao bảo cho môn đồ rằng mình đã thấy Chúa, và Ngài đã phán cùng mình những điều đó.
19I ke ahiahi o na la mua la o ka hebedoma, ua paniia na puka, ma kahi i akoakoa ai na haumana, no ka makau i na Iudaio; hele mai la o Iesu a ku iho la iwaena, i mai la ia lakou, Aloha oukou.
19Buổi chiều nội ngày đó, là ngày thứ nhất trong tuần lễ, những cửa nơi các môn đồ ở đều đang đóng lại, vì sợ dân Giu-đa, Đức Chúa Jêsus đến đứng chính giữa các môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!
20A pau kana olelo ana i keia, hoike mai la oia ia lakou i kona mau lima, a me kona aoao. Alaila olioli iho la na haumana i ko lakou ike ana i ka Haku.
20Nói đoạn, Ngài giơ tay và sườn mình cho môn đồ xem. Các môn đồ vừa thấy Chúa thì đầy sự mừng rỡ.
21Olelo hou aku la no o Iesu ia lakou, Aloha oukou: e like me ka Makua i hoouna mai ai ia'u, pela hoi au e hoouua aku ai ia oukou.
21Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Bình an cho các ngươi! Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy.
22A pau kana olelo ana i keia, ha iho la oia ia lakou, i mai la ia lakou, E loaa ia oukou ka Uhane Hemolele.
22Khi Ngài phán điều đó rồi, thì hà hơi trên môn đồ mà rằng: Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh.
23O ka hewa o na mea a oukou e kala aku ai, e kalaia no lakou; a o ka hewa o na mea a oukou e kala ole aku ai, aole ia e kalaia no lakou.
23Kẻ nào mà các ngươi tha tội cho, thì tội sẽ được tha; còn kẻ nào các ngươi cầm tội lại, thì sẽ bị cầm cho kẻ đó.
24O kekahi o ka poe umikumamalua, o Toma, i kapaia o Didumo, aole ia me lakou, i ka wa i hele mai ai o Iesu.
24Vả, lúc Đức Chúa Jêsus đến, thì Thô-ma, tức Đi-đim, là một người trong mười hai sứ đồ, không có ở đó với các môn đồ.
25I aku la keia poe haumana ia ia, Ua ike makou i ka Haku. I mai la oia ia lakou, Ina e ike ole au i na puka o na kui ma kona mau lima, a e o i ko'u manamana lima, ma ka puka o na kui, a e o hoi i ko'u lima ma kona aoao, aole loa au e manaoio.
25Các môn đồ khác nói với người rằng: Chúng ta đã thấy Chúa. Nhưng người trả lời rằng: Nếu ta không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài, nếu ta không đặt ngón tay vào chỗ dấu đinh, và nếu ta không đặt bàn tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin.
26A poawalu ae la, maloko hou kana poe haumana, a o Toma kekahi me lakou. A ua paniia na puka, hele mai la o Iesu, a ku mai la iwaena, i mai la, Aloha oukou.
26Cách tám ngày, các môn đồ lại nhóm nhau trong nhà, có Thô-ma ở với. Khi cửa đang đóng, Đức Chúa Jêsus đến, đứng chính giữa môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!
27Alaila i mai la oia ia Toma. E o mai i kou manamana lima maanei, a e nana i ko'u mau lima, e o mai i kou lima, a e hou iho ma kuu aoao: a mai noho a kanalua, aka, e manaoio.
27Đoạn, Ngài phán cùng Thô-ma rằng: Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây, và xem bàn tay ta; cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn ta, chớ cứng lòng, song hãy tin!
28Olelo aku la o Toma ia ia, i aku la, E ko'u Haku, a me ko'u Akua.
28Thô-ma thưa rằng: Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!
29Olelo mai la o Iesu ia ia, e Toma, No kou ike maka ana mai ia'u, na manaoio oe; pomaikai ka poe ike maka ole, a manaoio hoi.
29Đức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!
30A nui no hoi na hana mana e ae a Iesu i hana'i imua o kana poe haumana, aole i palapalaia iloko o keia buke.
30Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy.
31Aka, ua palapalaia keia mau mea i manaoio ai oukou, o Iesu ka Mesia, ke Keiki a ke Akua; a i ko oukou manaoio ana, i loaa'i ia oukou ke ola ma kona inoa.
31Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.