Rom 1
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Pawl, Jesu Kri ih tamna, Sithaw tamthanglok hoih pongah, pahoe ih kami ah kaom, patoeh ih kami ah kawk ih kami mah,
1Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời, -
2(to tamthanglok hoih loe kaciim Cabunawk thungah angmah ih tahmaanawk rang hoiah anih mah tangsuek na hoi lokkamhaih to sak boeh,)
2là Tin Lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh Thánh,
3taksa ah David ih atii ah kaom, a Capa aicae Angraeng Jesu Kri ih tamthang to;
3về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra,
4Muithla ciimcaihaih baktiah, duekhaih thung hoi angthawk moe, thacakhaih hoiah Sithaw Capa ni, tiah taphong:
4theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta,
5Anih ih ahmin pongah, prae kaminawk boih mah lok to tahngaih o moe, tanghaih tawnh o thai hanah, anih rang hoiah ni tahmenhaih hoi patoeh ih kaminawk mah sak ih tok to a hnuk o:
5nhờ Ngài chúng ta đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, để đem mọi dân ngoại đến sự vâng phục của đức tin, vì danh Ngài,
6nangcae doeh Jesu Kri mah kawk ih kami ah nathum o toeng boeh:
6trong các dân ấy anh em cũng đã được gọi bởi Đức Chúa Jêsus Christ; -
7Sithaw mah palung moe, kaciim kami ah oh han kawk ih, Rom vangpui ah kaom kaminawk boih khaeah, Aicae Ampa Sithaw hoi Angraeng Jesu Kri khae ih monghaih hoi tahmenhaih nangcae khaeah om nasoe.
7gởi cho hết thảy những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, được gọi làm thánh đồ. Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ!
8Hmaloe koekah, na tang o haih to long pum ah thuih o boeh pongah, Jesu Kri rang hoiah nangcae boih han, Sithaw khaeah kawnhaih lok ka thuih.
8Trước hết, tôi nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, vì hết thảy anh em mà tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về đức tin anh em đã đồn khắp cả thế gian.
9Boeng ai ah nangcae han lawk ka thuih toepsoep, ka palungthin boih hoiah kahoih a Capa ih tamthanglok to ka thuih, tiah a tok ka sak pae ih Sithaw mah panoek.
9Vì Đức Chúa Trời mà tôi lấy tâm thần hầu việc, bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi nhắc đến anh em không thôi
10Sithaw koehhaih hoiah nangcae khae angzoh thai hanah, lawk ka thuih.
10trong mọi khi tôi cầu nguyện, thường xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, sau lại có thể gặp dịp tiện đi đến nơi anh em.
11Thoemto Muithla tangqum nangcae han pazet moe, hnukkhuem ah tha na cak o thai hanah, nangcae hnuk han ka koeh parai.
11Thật vậy, tôi rất mong mỏi đến thăm anh em, đặng thông đồng sự ban cho thiêng liêng cùng anh em, hầu cho anh em được vững vàng,
12To tiah ni aicae mah tanghaih bangah maeto hoi maeto tha angpaek o thai tih.
12tức là tôi ở giữa anh em, để chúng ta cùng nhau giục lòng mạnh mẽ bởi đức tin chung của chúng ta, nghĩa là của anh em và của tôi.
13Nawkamyanawk, kalah Gentelnawk khaeah athaih ka pakhrik baktih toengah, nangcae khaeah doeh athaih ka pakhrik thai toeng hanah, nangcae ohhaih ahmuen ah angzoh han kam sak khing boeh, (toe vaihi khoek to pakaakung oh vop,) tiah panoeksak han ka koeh.
13Vả, hỡi anh em, tôi chẳng muốn anh em không biết rằng đã ghe phen tôi toan đi thăm anh em, đặng hái trái trong anh em cũng như trong dân ngoại khác; song về sự đó tôi bị ngăn trở cho đến bây giờ.
14Kai loe Grik kaminawk, tuinuen kaham kaminawk, palungha kaminawk hoi palungha ai kaminawk khaeah doeh laiba ka tawnh.
14Tôi mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người dã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt.
15To pongah, Rom vangpui ah kaom nangcae khaeah doeh, ka thuih thai tawk kahoih tamthanglok to thuih hanah ka koeh.
15Aáy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Tin Lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma.
16Kri ih kahoih tamthanglok pongah azathaih ka tawn ai: kahoih tamthanglok loe tang kaminawk boih pahlong hanah, Sithaw thacakhaih ah oh, hmaloe koekah Judahnawk hanah oh, to pacoengah Gentelnawk han doeh oh.
16Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc;
17Katoeng kami loe tanghaih hoiah hing tih, tiah tarik ih oh baktih toengah, tanghaih rang hoiah kaom Sithaw toenghaih loe, tanghaih rang hoiah ni amtueng.
17vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin.
18Sithaw palungphuihaih loe van bang hoiah Sithaw panoek ai kaminawk, katoeng ai kaminawk hoi loktang to katoeng ai ah patoh kaminawk boih khaeah amtueng boeh.
18Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật.
19Sithaw mah nihcae khaeah hnuksak pongah, panoek han koi Sithaw ih hmuennawk to nihcae khaeah amtueng pae.
19Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi,
20Long oh tangsuek na hoi amtueng ai hmuennawk to kamtueng ah hnuk thai boeh, dungzan a thacakhaih hoi Sithaw ah ohhaih to, a sak ih hmuenawk rang hoiah kamtueng ah panoek boeh pongah, a sak o ih zaehaih to nihcae mah angphat o thai mak ai.
20bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bản tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được,
21Nihcae loe Sithaw panoek o, toe Anih to Sithaw baktiah pakoeh o ai, kawnhaih lok doeh thui o ai; nihcae poekhaih loe tidoeh avang ai, nihcae amthuhaih palung loe khoving baktiah tahmuep.
21vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm.
22Angmacae hoi angmacae to palungha kami ah poek o, toe nihcae loe kamthu kami ni,
22Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại;
23amro thai ai Sithaw lensawkhaih to amro thaih kami baktiah sakcop ih krang, tavaanawk, khok palito kaom moinawk hoi long ah kavak hmuennawk baktiah a sak pakhraih o ving.
23họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng.
24To pongah angmacae zae sak koehhaih palungthin baktih toengah, angmacae hoi angmacae salakah angmacae ih takpum to azatsak hanah, Sithaw mah nihcae han kaciim ai poekhaih to paek.
24Cho nên Đức Chúa Trời đã phó họ sa vào sự ô uế theo lòng ham muốn mình, đến nỗi tự làm nhục thân thể mình nữa,
25Nihcae loe loktang Sithaw to amsawn lok hoiah athlaeng o ving moe, dungzan tahamhoihaih ah kaom, Sahkung pongah, sak ih hmuen to a bok o lat. Amen.
25vì họ đã đổi lẽ thật Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên, là Đấng đáng khen ngợi đời đời! A-men.
26Hae pongah Sithaw mah nihcae khaeah kasae sak koehhaih palungthin to paek: nongpatanawk loe sakzong ih hmuen baktiah sah o ai ah, sakzong ai ih hmuen to a sak o lat:
26Aáy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đàn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên.
27to baktih toengah nongpanawk mah doeh, nongpata hoi angkom zonghaih to pahnawt o moe, maeto hoi maeto zae sak koehhaih palungthin hmai baktiah bet o pongah, azat kaom hmuen ah kaom nongpa hoi nongpa zaehaih to a sak o, to tiah a sakpazae o ih hmuen baktih toengah nihcae mah atho to hnuk o.
27Những người đàn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đàn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đàn ông cùng đàn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình.
28Nihcae loe Sithaw panoek han koeh o ai pongah, sak kahoih ai hmuennawk to saksak hanah, Sithaw mah kamro poekhaih to nihcae hanah paek;
28Tại họ không lo nhìn biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó họ theo lòng hư xấu, đặng phạm những sự chẳng xứng đáng.
29nihcae loe zaehaih congca, toeng ai ah khosakhaih, zu sava laep ah nongpa hoi nongpata zae sakhaih, poeksethaih, kamthlai hmoek koehhaih, hnukmahaih, uthaih, humhaih, angaekhaih, alinghaih, poeksethaih, kami pronghaih hoiah koi o,
29Họ đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ;
30ahmin kasae thui kami, Sithaw hnuma kami, kami khet patoek kami, poeksang kami, amoek kami, kahoih ai hmuennawk sah kami, amno hoi ampa lok tahngai ai kami,
30hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ;
31panoek thai ai kami, oepthok ai kami, amlunghaih tawn ai kami, misa koeh kami, palungnathaih tawn ai kami ah oh o.
31dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót.
32To baktih toksah kami loe duek han krak, tiah Sithaw lokcaekhaih to nihcae mah panoek o, toe nihcae loe to baktih hmuennawk sak khue to khawt ai, to baktih hmuen sak hanah kaminawk to thapaek o.
32Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.