Rom 6
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Kawbangmaw a tih o han? Tahmenhaih pop aep hanah zaehaih a sak o poe han maw?
1Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta phải cứ ở trong tội lỗi, hầu cho ân điển được dư dật chăng?
2A sah o mak ai. Zaehaih thungah a duek o boeh loe, kawbangmaw to zaehaih thungah a hing o let thai tih?
2Chẳng hề như vậy! Chúng ta đã chết về tội lỗi, lẽ nào còn sống trong tội lỗi nữa?
3Kri Jesu ah tuinuem kaminawk boih loe Anih duekhaih ah ni tuinuem o, tito na panoek o ai maw?
3Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp-têm trong Đức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp-têm trong sự chết Ngài sao?
4Duekhaih ah tuinuem rang hoiah aicae loe anih hoi nawnto aphum boeh: Kri loe Ampa lensawkhaih hoiah duekhaih thung hoi angthawk let baktih toengah, aicae doeh kangtha hinghaih loklam ah a caeh o toeng tih.
4Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-têm trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy.
5Anih hoi nawnto a duek o boeh nahaeloe, Anih angthawk lethaih ah doeh Anih hoi nawnto angthawk o let tih.
5Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau:
6Zaehaih takpum to amrosak ving moe, vaihi hoi kamtong zaehaih tamna ah a oh o han ai ah, aicae ih kami kangquem loe Anih hoi nawnto thinglam pongah takhing boeh, tiah a panoek o.
6vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa.
7To pongah kadueh kami loe zaehaih thung hoiah loih boeh.
7Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi.
8Vaihi Kri hoi nawnto a duek o nahaeloe, Anih hoi nawnto a hing o tih, tiah tanghaih a tawnh o:
8Vả, nếu chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ, thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài,
9Kri loe duekhaih thung hoi angthawk let boeh pongah, dueh let mak ai boeh; duekhaih mah Anih to uk mak ai boeh, tiah a panoek o.
9bởi biết rằng Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì chẳng chết nữa; sự chết không còn cai trị trên Ngài.
10Anih duek naah, zaehaih pongah vaito ni a duek: toe Anih hing naah loe Sithaw ah ni a hing.
10Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng hiện nay Ngài sống, ấy là sống cho Đức Chúa Trời.
11To baktih toengah nangcae doeh zaehaih thungah ka duek o, toe aicae Angraeng Kri Jesu rang hoiah Sithaw ah ka hing o boeh, tiah poek oh.
11Vậy anh em cũng hãy coi mình như chết về tội lỗi và như sống cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ.
12To pongah taksa koehhaih pazui han ai ah, kadueh thaih na taksa to zaehaih mah uk hma lai nasoe.
12Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó.
13Na takpum tanghangnawk to katoeng ai hmuen sak hanah patoh o hmah: toe duekhaih thung hoi kangthawk, hinghaih tawn kaminawk baktiah, katoeng hmuen sak hanah na takpum tanghangnawk to Sithaw khaeah angpaek oh.
13Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình.
14Nangcae loe kaalok thungah na om o ai, tahmenhaih thungah ni na oh o boeh, to pongah zaehaih mah nangcae uk han om ai boeh.
14Vì tội lỗi không cai trị trên anh em đâu; bởi anh em chẳng thuộc dưới luật pháp, mà thuộc dưới ân điển.
15Kawbangah maw oh boeh? Kaalok thungah a om o ai, tahmenhaih thungah ni a oh o boeh, to pongah zaehaih a sak o han vop maw? A sah o mak ai.
15Vậy thì làm sao! Vì chúng ta không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển, thì chúng ta sẽ phạm tội hay sao? Chẳng hề như vậy!
16Duekhaih omsak zaehaih khaeah maw, to tih ai boeh loe toenghaih omsak lok tahngaihaih khaeah misong baktiah a lok tahngaih pae han nang paek o naah, lok na tahngaih pae kami ih tamna ah ni na oh o, tito na panoek o ai maw?
16Anh em há chẳng biết rằng nếu anh em đã nộp mình làm tôi mọi đặng vâng phục kẻ nào, thì là tôi mọi của kẻ mình vâng phục, hoặc của tội lỗi đến sự chết, hoặc của sự vâng phục để được nên công bình hay sao?
17Nangcae loe zae tamna ah na oh o, toe nangcae loihsakkung patukhaih lok to palung tang hoi na tang o pongah, Sithaw khaeah kawnhaih lok thuih han ka tawnh.
17Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sau khi anh em làm tôi mọi tội lỗi, thì đã từ lòng vâng phục đạo lý là sự đã ban làm mực thước cho mình!
18Nangcae loe zaehaih thung hoi loih boeh moe, toenghaih tamna ah na oh o boeh.
18Vậy, anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi, trở nên tôi mọi của sự công bình rồi.
19Taksa ah tha na zok o pongah, kami baktiah ni lok kang thuih o: zaehaih sak aep hanah na takpum tanghangnawk to ciimcai ai zaehaih misong ah nang paek o baktih toengah, ciimcai hanah vaihi na takpum tanghangnawk to toenghaih misong ah angpaek oh.
19Tôi nói theo cách loài người, vì xác thịt của anh em là yếu đuối. Vậy, anh em từng đặt chi thể mình làm tôi sự ô uế gian ác đặng phạm tội ác thể nào, thì bây giờ, hãy đặt chi thể mình làm tôi sự công bình đặng làm nên thánh cũng thể ấy.
20Nangcae zaehaih misong ah na oh o naah, toenghaih hoiah na loih o boeh.
20Vả, khi anh em còn làm tôi mọi tội lỗi, thì đối với sự công bình anh em được tự do.
21Vaihi na sak o ih azat kaom hmuennawk pongah nangcae mah tih hoihhaih atho maw na hnuk o? To baktih hmuennawk loe duekhaih hoiah ni boeng o.
21Thế thì anh em đã được kết quả gì? Aáy là quả mà anh em hiện nay đang hổ thẹn; vì sự cuối cùng của những điều đó tức là sự chết.
22Toe vaihi loe zaehaih thung hoi na loih o boeh moe, Sithaw ih tamna ah na oh o boeh, ciimcaihaih thingthai to na hnuk o, hnukkhuem ah, dungzan hinghaih to na hnu o tih.
22Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng.
23Zaehaih tho loe duekhaih ih ni; toe Sithaw tangqum loe aicae Angraeng Kri Jesu rang hoiah dungzan hinghaih ah oh.
23Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.