Rom 3
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To tiah nahaeloe Judah kami ah ohhaih timaw atho oh? To tih ai boeh loe tangyat hin aahhaih rang hoiah tih amekhaih maw oh?
1Vậy thì, sự trổi hơn của người Giu-đa là thể nào, hay là phép cắt bì có ích gì chăng?
2Amekhaih congca oh: lokpui koekah, Sithaw lok to nihcae khaeah pakuemsak pongah amekhaih oh.
2ỗch lớn đủ mọi đàng. Trước hết là điều nầy: ấy là lời phán của Đức Chúa Trời đã phó cho dân Giu-đa.
3Thoemto kaminawk mah tang o ai nahaeloe kawbangmaw om o tih? Katang ai nihcae khosakhaih mah Sithaw oep ohhaih to amrosak maw?
3Mà làm sao! nếu một vài người trong bọn họ không thành tín, thì sự không thành tín của họ có làm cho sự thành tín của Đức Chúa Trời ra hư không sao?
4To tiah na ai ni: ue, Na thuih ih lok pongah toenghaih na hnu tih, lokcaekhaih na tongh naah na pazawk tih, tiah tarik ih oh baktih toengah, kami boih lok amlai o cadoeh, Sithaw loe loktang ah oh.
4Chẳng hề như vậy! Thà xưng Đức Chúa Trời là thật và loài người là giả dối, như có chép rằng: Aáy vậy Chúa sẽ được xưng công bình trong lời phán của Ngài, Và sẽ được thắng khi chịu xét đoán.
5Toe aicae sethaih mah Sithaw toenghaih to amtuengsak nahaeloe, kawbangmaw a thuih o han? Aicae danpaek Sithaw loe toeng ai ah maw oh? (Kami baktiah ni lok ka thuih)
5Song nếu sự không công bình của chúng ta tỏ ra sự công bình của Đức Chúa Trời, thì sẽ nói làm sao? Khi Đức Chúa Trời giáng cơn giận thì Ngài không công bình sao? (Tôi nói như cách người ta nói). -
6To tiah na ai ni: to tiah om nahaeloe Sithaw mah kawbangmaw long hae lokcaek tih?
6Chẳng hề như vậy! Nếu vậy thì Đức Chúa Trời đoán xét thế gian thể nào?
7Lok kam laihaih hoiah loktang ah kaom Sithaw lensawkhaih to amtueng aep nahaeloe, tipongah kami zae maeto baktiah kai lokcaekhaih oh vop loe?
7Nhưng, nếu lẽ thật Đức Chúa Trời bởi sự nói dối của tôi mà được sự vinh hiển lớn hơn, thì sao tôi còn bị đoán xét như kẻ có tội? -
8To tiah nahaeloe tipongah kahoih hmuen tacawt thai hanah, kasae hmuen to sah o ngala si, tiah a thui o ai loe? (To tiah lok a thuih o ti, tiah thoemto kaminawk mah kaicae kasae ang thuih o). To tiah lokthui kami loe lokcaek han krak.
8Vậy thì, sao chúng ta không làm sự dữ cho được sự lành, như kẻ gièm pha đã cáo và quyết rằng chúng ta dạy điều ấy?... Sự đoán phạt những người đó là công bình.
9To tiah nahaeloe kawbangmaw oh boeh? Aicae loe nihcae pongah hoih kue maw? Hoih ai, hoih kue ai: Judahnawk doeh, Gentelnawk doeh, zaehaih thungah ni oh o boih, tiah kamnoekta ah kang thuih o boeh;
9Thế nào! Chúng ta có điều gì hơn chăng? Chẳng có, vì chúng ta đã tỏ ra rằng người Giu-đa và người Gờ-réc thảy đều phục dưới quyền tội lỗi,
10katoeng kami mi doeh om ai, om ai, maeto doeh om ai:
10như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không.
11kathaih kop kami mi doeh om ai, Sithaw pakrong kami mi doeh om ai.
11Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời.
12Nihcae loe loklam amkhraeng o boih boeh, nihcae loe tidoeh avang o ai boeh; kahoih hmuen sah kami mi doeh om ai, om ai, maeto doeh om ai.
12Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không.
13Nihcae ih aqawnh loe taprong baktiah amongh moe, palai hoiah alinghaih lok to thuih o; nihcae ih pahni ah pahui kasoe to oh:
13Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang.
14nihcae ih pakha loe tangoenghaih hoi kakhaa lok hoiah koi:
14Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng.
15athii palong hanah karangah khok takanh o;
15Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu.
16a caeh o haih loklam ah amrohaih hoi patangkhanghaih to oh:
16Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn,
17monghaih loklam nihcae mah panoek o ai:
17Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an.
18nihcae mik ah Sithaw zithaih roe om ai, tiah Cabu thungah tarik ih oh.
18Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó.
19Kami boih mah lok apae ai ah oh moe, long kaminawk boih Sithaw hmaa ah lokcaek thai hanah, kaalok mah thuih ih hmuennawk boih loe kaalok thungah kaom kaminawk han ih ni thuih, tito vaihi a panoek o boeh.
19Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời;
20Kaalok mah zaehaih amtuengsak pongah, mi kawbaktih doeh kaalok pazuihaih rang hoiah Anih hmaa ah toenghaih hnu mak ai.
20vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi.
21Toe vaihi loe kaalok hoi tahmaanawk ih lok mah hnukung ah oh boeh, Sithaw toenghaih loe kaalok pazuihaih hoiah om ai;
21Nhưng hiện bây giờ, sự công bình của Đức Chúa Trời, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đã bày tỏ ra ngoài luật pháp:
22Sithaw toenghaih loe, kaminawk boih hoi tanghaih tawn kaminawk boih hanah, Jesu Kri tanghaih rang hoiah ni oh; mi kawbaktih doeh lahhaih om ai boeh:
22tức là sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi sự tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, cho mọi người nào tin, chẳng có phân biệt chi hết,
23kami boih zae o boeh moe, Sithaw lensawkhaih to hnu o thai ai boeh;
23vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời,
24atho paek ai ah Kri Jesu mah akranghaih hoi a tahmenhaih rang hoiah ni toenghaih to a hnuk o:
24và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ,
25Anih patangkhanghaih rang hoiah canghnii ah sak ih zaehaihnawk loe Sithaw mah tahmen boeh; a toenghaih to amtuengsak hanah, anih tanghaih rang hoiah, Angmah ih athii hoiah aicae zuengah tahmen hnikhaih angbawnhaih sak hanah, Sithaw mah to tiah sak boeh.
25là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia,
26Anih loe katoeng kami ah oh, Jesu tanghaih tawn kaminawk toenghaih hnuksak hanah, a toenghaih to vaihi amtuengsak boeh.
26trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Jêsus.
27To tiah nahaeloe amoekhaih loe naa ah maw oh boeh? Amoekhaih loe anghmaat ving boeh. Kawbaktih kaalok pongah maw anghmaat ving? Toksakhaih hoiah maw anghmaat? Toksakhaih hoiah na ai ni; kaalok tanghaih rang hoiah ni.
27Vậy thì sự khoe mình ở đâu? Đã bị trừ bỏ rồi. Bởi luật pháp nào? Luật pháp của việc làm chăng? Không phải, nhưng bởi luật pháp của đức tin;
28To pongah, kami loe kaalok pazui pongah na ai, tanghaih rang hoiah ni toenghaih to hnuk, tito a panoek o.
28vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp.
29Anih loe Judahnawk ih Sithaw khue maw? Gentelnawk ih Sithaw ah doeh om ai maw? Ue, Gentelnawk ih Sithaw ah doeh oh.
29Hay là, Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Giu-đa sao? Há chẳng phải cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại ư? Phải, Ngài cũng là của dân ngoại nữa;
30Sithaw loe maeto ah oh pongah, anih mah tangyat hin aat kami to tanghaih rang hoiah ni toenghaih to hnusak ueloe, tangyat hin aat ai kami doeh tanghaih rang hoiah ni toenghaih to hnusak tih.
30Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm cho kẻ chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin, cũng làm cho kẻ không chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin nữa.
31To tiah nahaeloe tanghaih rang hoiah aicae mah kaalok a phraek o maw? A phrae o ai, ue, kaalok to ni a cak o sak aep.
31Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.