Rom
Chapter 8
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pongah vaihi Kri Jesu ah kaom, taksa baktiah kacaeh ai, Muithla baktiah kacaeh kaminawk hanah, lokcaekhaih om ai boeh.
1Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ;
2Kri Jesu ah Muithla hinghaih lok mah zae duekhaih lok thung hoiah ang loisak boeh.
2vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Jêsus Christ buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết.
3Taksa rang hoiah thazok moe, kaalok mah toksah thai ai naah, zae loihsak hanah, Sithaw mah zae taksa tawn kami baktiah a Capa to patoeh, Anih mah zae taksa to danpaek:
3Vì điều chi luật pháp không làm nổi, tại xác thịt làm cho luật pháp ra yếu đuối, thì Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã vì cớ tội lỗi sai chính Con mình lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi chúng ta, và đã đoán phạt tội lỗi trong xác thịt,
4taksa koehhaih baktiah kacaeh ai, Muithla koehhaih baktiah caeh kami loe, kaalok mah thuih ih toenghaih to aicae khaeah koepsak tih.
4hầu cho sự công bình mà luật pháp buộc phải làm được trọn trong chúng ta, là kẻ chẳng noi theo xác thịt, nhưng noi theo Thánh Linh.
5Taksa koehhaih baktiah khosah kaminawk loe taksa koehhaih hmuennawk to poek o; toe Muithla koehhaih baktiah khosah kaminawk loe Muithla koehhaih hmuennawk to poek o.
5Thật thế, kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt; còn kẻ sống theo Thánh Linh thì chăm những sự thuộc về Thánh Linh.
6Taksa poekhaih palung loe duekhaih ih ni; toe Muithla poekhaih palung loe hinghaih hoi monghaih ah oh.
6Vả, chăm về xác thịt sanh ra sự chết, còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an;
7Tipongah tih nahaeloe taksa poekhaih palung loe Sithaw hoi misa ah oh: Sithaw lok ah angpaek ai khue na ai ah, angpaek doeh angpaek thai ai.
7vì sự chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không phục dưới luật pháp Đức Chúa Trời, lại cũng không thể phục được.
8To pongah, taksa ah kaom kaminawk loe Sithaw ih palung tongh o thai ai.
8Vả, những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời.
9Toe Sithaw ih Muithla nangcae thungah om nahaeloe, nangcae loe taksa ah na om o ai, Muithla ah ni na oh o. Mi kawbaktih doeh Kri Muithla tawn ai kami loe, Kri ih kami na ai ni.
9Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài.
10Toe nangcae thungah Kri to om nahaeloe, zae pongah nangcae ih takpum dueh cadoeh, toenghaih pongah Muithla loe hinghaih ah oh.
10Vậy nếu Đấng Christ ở trong anh em, thì thân thể chết nhân cớ tội lỗi, mà thần linh sống nhân cớ sự công bình.
11Toe duekhaih hoi Jesu Pathawkkung ih Muithla to nangcae thungah om nahaeloe, nangcae thungah kaom Anih ih Muithla rang hoiah duekhaih thung hoi Kri Pathawkkung mah, kadueh thaih nangcae ih takpum to pathawk toeng tih.
11Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống.
12To pongah nawkamyanawk, aicae loe taksa ah om ai, taksa koehhaih baktiah a hing o han ai ah, laiba a tawnh o.
12Vậy, hỡi anh em, chúng ta chẳng mắc nợ xác thịt đâu, đặng sống theo xác thịt.
13Taksa koehhaih baktiah na hing o nahaeloe, na dueh o tih: toe Muithla rang hoiah taksa mah sak ih zaehaihnawk to na hum o nahaeloe, na hing o tih.
13Thật thế, nếu anh em sống theo xác thịt thì phải chết; song nếu nhờ Thánh Linh, làm cho chết các việc của thân thể, thì anh em sẽ sống.
14Sithaw Muithla mah zaeh ih kaminawk boih loe, Sithaw caa ah oh o.
14Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời.
15Nangcae loe zit kaom tamna ah oh lethaih palung to na hak o ai; Abba, Pa, tiah kawk thaihaih a caa ah angcoenghaih Muihtla ni na hak o.
15Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha!
16Aicae loe Sithaw ih caa ah a oh o, tito aicae ih muithla hoi nawnto Sithaw angmah ih Muithla mah hnukung ah oh.
16Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.
17Anih ih caa ah a oh o nahaeloe, qawktoepkung, Sithaw ih qawktoep kami ah a om o ueloe, Kri hoi nawnto qawktoepkung ah a om o tih; anih hoi nawnto patang a khang o nahaeloe, aicae doeh a lensawkhaih ah om o toeng tih.
17Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài.
18Vaihi thuem karai tonghaihnawk loe aicae khaeah amtueng han koi lensawkhaih hoi patah naah tidoeh na ai ni, tiah ka poek.
18Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta.
19Sithaw caanawk amtuenghaih to a sak ih hmuenanwk boih mah paroeai oephaih hoiah zing o.
19Thật thế, muôn vật ước ao nóng nảy mà trông đợi con cái Đức Chúa Trời được tỏ ra.
20A sak ih hmuen to doeh amrohaih misong thung hoiah loihsak moe, kalensawk Sithaw caanawk loihhaih thungah akun toeng han oh pongah,
20Vì muôn vật đã bị bắt phục sự hư không, chẳng phải tự ý mình, bèn là bởi cớ Đấng bắt phục.
21a sak ih hmuen loe tidoeh avang ai ah oh sut, toe angmakoeh ah to tiah om ai, oephaih rang hoiah ni Anih mah to tiah ohsak.
21Muôn vật mong rằng mình cũng sẽ được giải cứu khỏi làm tôi sự hư nát, đặng dự phần trong sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời.
22A sak ih hmuennawk boih loe vaihi khoek to nawkta oh tom nathuem ih zok kana baktiah pacip pa-aahaih hoiah a hang o, tito a panoek o.
22Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay;
23Nihcae khue ai, Muithla thingthai tangsuek ah kaom aicae doeh, a caa ah ohhaih hoi aicae taksa loih han akranghaih to a oep o pongah, a zing o naah aimacae ih palung thung hoiah a hangh o toeng.
23không những muôn vật thôi, lại chúng ta, là kẻ có trái đầu mùa của Đức Thánh Linh, cũng than thở trong lòng, đang khi trông đợi sự làm con nuôi, tức là sự cứu chuộc thân thể chúng ta vậy.
24Aicae loe to oephaih hoiah ni pahlong ah oh: toe hnukhaih loe oephaih ah om ai: kami maeto mah a hnuk tangcae hmuen to oep khing vop tih maw?
24Vì chúng ta được cứu trong sự trông cậy, nhưng khi người ta đã thấy điều mình trông rồi, ấy không phải là trông nữa: mình thấy rồi, sao còn trông làm chi?
25Toe a hnu o ai ih hmuen to a oep o nahaeloe, to hmuen to palungsawkhaih hoiah zing han oh.
25Song nếu chúng ta trông điều mình không thấy, ấy là chúng ta chờ đợi điều đó cách nhịn nhục.
26To baktih toengah aicae thazok naah Muithla mah ang bomh: aicae mah lawk a thuih o han oh, lawkthuih han koi to a panoek o ai: toe lok hoi thui laek ai karoek to Muithla mah roe mah ahamhaih hoiah aicae taham ah lawk ang thuih pae.
26Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta.
27Palungthin Pakrongkung mah loe Muithla poekhaih palung to panoek, tipongah tih nahaeloe Sithaw koehhaih baktih toengah Anih mah kaciim kaminawk hanah lawkthuih pae.
27Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy.
28Anih mah Sithaw palung kaminawk hoi a timhaih baktiah kawk ih kaminawk hanah khosak hoihaih hmuennawk a sak pae boih, tito a panoek o.
28Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định.
29Anih loe pop parai nawkamyanawk thungah calu koekah oh moe, a Capa hoi kanghmong ah ohsak hanah, Angmah panoek coek ih kami to a thuih coek boeh.
29Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em;
30To tiah Angmah panoek coek ih kaminawk to ni Anih mah doeh kawk: a kawk ih kaminawk to a toengsak: a toengsak ih kaminawk to a pakoeh.
30còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển.
31To tiah nahaeloe hae hmuennawk hae kawbangmaw a thuih o han? Aicae bangah Sithaw om nahaeloe, mi mah maw aicae hae tuh thai tih?
31Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?
32A Capa mataeng doeh paquem ai ah, aicae boih han Paekkung loe, hmuennawk boih aicae han azom ah paek ai ah om tih maw?
32Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?
33Toenghaih omsakkung loe Sithaw ni, to pongah Sithaw mah qoih ih kaminawk to mi mah maw zae net thai tih?
33Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy.
34Lokcaek kami loe mi aa? Kri loe duek, toe duekhaih thung hoi angthawk let boeh, Anih loe Sithaw bantang bangah anghnut moe, aicae taham ah lawkthuih.
34Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta.
35Kri amlunghaih hoiah mi mah maw aicae tapraek thai tih? Amtanghaih, to tih ai boeh loe patangkhanghaih, to tih ai boeh loe pacaekthlaekhaih, to tih ai boeh loe takaang thohhaih, to tih ai boeh loe bangkrai ah ohhaih, to tih ai boeh loe zit kathok raihaih hoi sumsennawk mah tapraek thai tih maw?
35Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng?
36Nangcae pongah kaicae loe athun qui duekhaih ka tongh o; kaicae loe boh han suek ih tuu baktiah a poek o, tiah tarik ih oh.
36Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt.
37To tiah na ai ni, hae hmuennawk boih Palungkung, Anih rang hoiah aicae loe pazawk kaminawk pong kapop ah a pazawk o.
37Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần.
38Kai loe duekhaih mah doeh, hinghaih mah doeh, van kaminawk mah doeh, van ukkungnawk mah doeh, thacakhaih mah doeh, vaihiah kaom hmuen mah doeh, hmabang kaom han koi hmuennawk mah doeh,
38Vì tôi chắc rằng bất k” sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép,
39kasang mah doeh, kahnaem mah doeh, kawbaktih sak ih hmuen mah doeh, aicae Angraeng Kri Jesu ah kaom, Sithaw amlunghaih thung hoiah tapraek thai mak ai, tito ka panoek.
39bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.