Johan 6
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pacoengah Jesu loe Kalili tuipui yaeh ah kaom, Tiberia tuipui ah caeh.
1Rồi đó, Đức Chúa Jêsus qua bờ bên kia biển Ga-li-lê, là biển Ti-bê-ri-át.
2Nathaih tawn kaminawk nuiah a sak ih dawnrai hmuen to hnuk o pongah, paroeai kaminawk anih hnukah bang o.
2Một đoàn dân đông theo Ngài, vì từng thấy các phép lạ Ngài làm cho những kẻ bịnh.
3Jesu loe mae nuiah dawh moe, a hnukbang kaminawk hoi nawnto anghnut.
3Nhưng Đức Chúa Jêsus lên trên núi, ngồi đó với môn đồ.
4Judahnawk ih misong loihhaih poih loe, zoi boeh.
4Vả, lễ Vượt Qua, là lễ của dân Giu-đa gần tới.
5Jesu mah doeng tahang naah, anih khaeah angzo paroeai kaminawk to hnuk, to naah anih mah Philip khaeah, Hae kaminawk caak o hanah naa ah maw takaw a qan o han? tiah a naa.
5Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên, thấy một đoàn dân đông đến cùng mình, bèn phán với Phi-líp rằng: Chúng ta sẽ mua bánh ở đâu, để cho dân nầy có mà ăn?
6Anih mah a sak han koi hmuen to panoek boeh, toe Philip to tanoek hanah hae lok hae a thuih.
6Ngài phán điều đó đặng thử Phi-líp, chớ Ngài đã biết điều Ngài sẽ làm rồi.
7Philip mah anih khaeah, denari cumvai hnetto tho takaw qan cadoeh nihcae han khawt mak ai, kami maeto mah zetta ni hak o tih, tiah a naa.
7Phi-líp thưa rằng: Hai trăm đơ-ni-ê bánh không đủ phát cho mỗi người một ít.
8A hnukbang kami maeto, Simon Piter ih amnawk Andru mah, anih khaeah,
8Một môn đồ, là Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ, thưa rằng:
9Barley cang hoi sak ih takaw pangato hoi tanga tetta katawn nawkta maeto haeah oh: toe kami hae zetto hanah loe tiah maw angcoeng tih? tiah a naa.
9Đây có một đứa con trai, có năm cái bánh mạch nha và hai con cá; nhưng đông người dường nầy, thì ngằn ấy có thấm vào đâu?
10Jesu mah kaminawk anghnu o sak ah, tiah a naa. To ahmuen loe paroeai phroh pop ahmuen ah oh. Sang pangato thuemtham kaom kaminawk loe phroh nuiah anghnut o.
10Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy truyền cho chúng ngồi xuống. Vả, trong nơi đó có nhiều cỏ. Vậy, chúng ngồi xuống, số người ước được năm ngàn.
11Jesu mah takaw to lak moe, kawnhaih lawkthuih pacoengah, hnukbang kaminawk khaeah a paek; hnukbang kaminawk mah toah anghnu kaminawk hanah pazet pae o; to baktih toengah tanga doeh kaminawk zok amhah hanah a paek.
11Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bèn phân phát cho những kẻ đã ngồi; Ngài cũng lấy cá phát cho chúng nữa, ai muốn bao nhiêu mặc ý.
12To kaminawk zok amhah o pacoengah, Anih mah a hnukbang kaminawk khaeah, Caaknoinawk to phrom oh, tidoeh anghmat o sak hmah, tiah a naa.
12Khi chúng đã ăn được no nê, Ngài phán với môn đồ rằng: Hãy lượm những miếng còn thừa, hầu cho không mất chút nào.
13Kaminawk mah zok amhah ah caak o pacoengah, barley takaw pangato hoiah kamtlai caaknoinawk to a phrom o naah, benthang hatlai hnetto koi.
13Vậy, môn đồ lượm những miếng thừa của năm cái bánh mạch nha, sau khi người ta đã ăn rồi, chứa đầy mười hai giỏ.
14Jesu mah sak ih dawnrai hmuen to pop parai kaminawk mah hnuk o naah, Hae kami loe long nuiah angzo han koi Tahmaa tangtang boeh ni, tiah thuih o.
14Những người đó thấy phép lạ Đức Chúa Jêsus đã làm, thì nói rằng: Người nầy thật là Đấng tiên tri phải đến thế gian.
15Nihcae angzo o ueloe, anih to Siangpahrang ah om o sak nganga tih, tiah Jesu mah panoek naah, angmah bueng mae ah oh hanah caehtaak.
15Bấy giờ Đức Chúa Jêsus biết chúng có ý đến ép Ngài để tôn làm vua, bèn lui ở một mình trên núi.
16Aduem bang phak naah, a hnukbang kaminawk loe tuipui ah caeh o tathuk,
16Đến chiều, môn đồ xuống nơi bờ biển,
17palong thungah akun o moe, Kapernuam avang ah caeh o. Khoving boeh, toe Jesu loe nihcae khae pha ai vop.
17và vào trong một chiếc thuyền, sang thẳng bờ bên kia, hướng về thành Ca-bê-na-um. Trời chợt tối, mà Đức Chúa Jêsus còn chưa đến cùng các môn đồ.
18Takhi sae song pongah tuiphu angthawk tahang.
18Gió thổi ào ào, đến nỗi biển động dữ dội.
19Nihcae mah meng thumto maw, to tih ai boeh loe meng palito maw palong mong o pacoengah, palong ohhaih bangah tuipui nuiah kacaeh Jesu to nihcae mah hnuk o; nihcae loe zit o.
19Khi các môn đồ đã chèo ra độ chừng hai mươi lăm hay là ba mươi ếch-ta-đơ, thấy Đức Chúa Jêsus đi trên mặt biển, gần tới chiếc thuyền, thì sợ hãi.
20Toe Anih mah nihcae khaeah, Zii o hmah; Kai ni, tiah a naa.
20Nhưng Ngài phán rằng: Aáy là ta đây, đừng sợ chi!
21To pacoengah nihcae mah Anih to palong thungah akun o sak: akra ai ah palong hoiah caeh han amsak o ih ahmuen to a phak o.
21Bấy giờ, môn đồ muốn rước Ngài vào thuyền; tức thì chiếc thuyền đậu vào bờ, là nơi định đi.
22Khawnbang phak naah, tuipui yaeh ah angdoe kaminawk loe a hnukbang kaminawk mah angthueng o ih palong khue ai ah loe, toah kalah palong om ai boeh, tito panoek o, a hnukbang kaminawk loe angmacae bueng ni caeh o, Jesu loe a hnukbang kaminawk hoi nawnto palong thungah akun ai;
22Đoàn dân ở bờ biển bên kia, đã nhận rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền, và Đức Chúa Jêsus không vào thuyền với môn đồ Ngài, chỉ một mình môn đồ đi mà thôi.
23(toe kalah palongnawk loe Angraeng mah kawnhaih lawkthuih pacoengah, nihcae takaw caakhaih ahmuen taengah Tiberia bang hoiah angzoh o:)
23Qua ngày sau, có mấy chiếc thuyền khác từ thành Ti-bê-ri-át lại gần nơi chúng đã ăn bánh khi Chúa tạ ơn rồi,
24to ih kaminawk mah Jesu hoi a hnukbang kaminawk to ih ahmuen ah om o ai boeh, tiah panoek o naah, palong to angthueng o moe, Jesu pakrong hanah, Kapernuam vangpui bangah caeh o.
24đoàn dân thấy Đức Chúa Jêsus không ở đó, môn đồ cũng không, bèn vào mấy thuyền kia mà đi qua thành Ca-bê-na-um để tìm Đức Chúa Jêsus.
25Nihcae mah tuipui yaeh ah Anih to hnuk o naah, nihcae mah anih khaeah, Rabbi, natuek naah haeah na phak loe? tiah dueng o.
25Chúng vừa tìm được Ngài tại bờ bên kia biển, bèn thưa rằng: Lạy thầy, thầy đến đây bao giờ?
26Jesu mah nihcae khaeah, Loktang to, loktang ah, kang thuih o, dawnrai hmuennawk na hnuk o pong na ai ah, zok kamhah ah takaw na caak o pongah ni, kai nang pakrong o.
26Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi tìm ta chẳng phải vì đã thấy mấy phép lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn bánh và được no.
27Ampa Sithaw mah Anih nuiah catui daeng boeh pongah, Kamro koi buh hak hanah toksah o hmah, Kami Capa mah nangcae han paek han ih dungzan hinghaih hnuk hanah, tok to sah oh, tiah a naa.
27Hãy làm việc, chớ vì đồ ăn hay hư nát, nhưng vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời, là thứ Con người sẽ ban cho các ngươi; vì ấy là Con, mà Cha, tức là chính Đức Chúa Trời, đã ghi ấn tín của mình.
28Nihcae mah anih khaeah, Sithaw mah koeh ih tih tok maw ka sak o han? tiah dueng o.
28Chúng thưa rằng: Chúng tôi phải làm chi cho được làm công việc Đức Chúa Trời?
29Jesu mah nihcae khaeah, Anih mah patoeh ih Kami tang hae Sithaw ih tok boeh ni, tiah a naa.
29Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi tin Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến, ấy đó là công việc Ngài.
30Nihcae mah anih khaeah, Ka hnuk o moe, kang tang o hanah, kawbaktih angmathaih maw nang patuek han? Tih tok maw na sak han? tiah a naa o.
30Chúng bèn nói rằng: Thế thì thầy làm phép lạ gì, để cho chúng tôi thấy và tin? Thầy làm công việc gì?
31Aicae ampanawk mah praezaek ah manna to caak o; nihcae mah caak o hanah, Anih mah van bang hoiah takaw to paek, tiah tarik ih oh, tiah a naa.
31Tổ phụ chúng ta đã ăn ma-na trong đồng vắng, theo như lời chép rằng: Ngài đã ban cho họ ăn bánh từ trên trời xuống.
32Jesu mah nihcae khaeah, Loktang to, loktang ah, kang thuih o, Mosi mah nangcae han van hoiah takaw to paek ai; Kam Pa mah ni van hoiah takaw tangtang to ang paek o.
32Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, Môi-se chưa hề cho các ngươi bánh từ trên trời đâu; nhưng Cha ta ban cho các ngươi bánh thật, là bánh từ trên trời xuống.
33Van hoiah angzo tathuk, long hinghaih paek Anih loe Sithaw ih takaw ah oh, tiah a naa.
33Bởi chưng bánh Đức Chúa Trời là bánh từ trên trời giáng xuống, ban sự sống cho thế gian.
34Nihcae mah anih khaeah, Angraeng, to takaw to kaicae han na paek poe ah, tiah a naa o.
34Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin ban bánh đó cho chúng tôi luôn luôn!
35Jesu mah nihcae khaeah, Kai loe hinghaih takaw ah ka oh: mi kawbaktih doeh kai khaeah angzo kami loe zok amthlam mak ai; kai tang kami loe natuek naah doeh tui anghae mak ai, tiah a naa.
35Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát.
36Toe kang thuih o baktih toengah, Kai nang hnuk o boeh, toe nang tang o ai vop.
36Nhưng ta đã nói: Các ngươi đã thấy ta, mà chẳng tin.
37Pa mah kai hanah paek ih kaminawk boih, Kai khaeah angzo o tih; kai khae angzo kami loe ka haek mak ai.
37Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu.
38Ka koehhaih sak han ih na ai ah, kai patoehkung koehhaih sak han ih ni, van hoiah kang zoh tathuk.
38Vì ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai ta đến.
39Kai hanah ang paek ih kaminawk boih mi doeh anghmaa ai ah, hnukkhuem niah pathawk let han ih tok loe, kai patoehkung Pa koehhaih ah oh.
39Vả, ý muốn của Đấng đã sai ta đến là hễ sự gì Ngài đã ban cho ta, thì ta chớ làm mất, nhưng ta phải làm cho sống lại nơi ngày sau rốt.
40Mi kawbaktih doeh Capa to hnu moe, anih tanghaih tawn kami loe dungzan hinghaih tawn tih, hae loe kai patoehkung Anih koehhaih ah oh: hnukkhuem niah anih to kang thawksak let han, tiah a naa.
40Đây là ý muốn của Cha ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt.
41Kai loe van hoiah angzo takaw ah ka oh, tiah a thuih pongah, Judah kaminawk mah anih to laisaep o thuih.
41Nhưng vì Ngài đã phán: Ta là bánh từ trên trời xuống, nên các người Giu-đa lằm bằm về Ngài,
42Nihcae mah, Hae kami loe Joseph capa, Jesu na ai maw? Anih ih amno hoi ampa doeh ka panoek o, kawbangmaw anih mah, Kai loe van hoiah ni kang zoh tathuk, tiah a thuih halat loe? tiah a thuih o.
42mà rằng: Aáy chẳng phải là Jêsus, con của Giô-sép, mà chúng ta đều biết cha mẹ người chăng? Vậy, thể nào người nói được rằng: Ta đã từ trên trời mà xuống?
43To pongah Jesu mah nihcae khaeah, Laisaep o hmah.
43Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi chớ lằm bằm với nhau.
44Hnukkhuem niah anih kang thawksak let hanah, Kai patoehkung Pa mah anih to ze ai nahaeloe, mi doeh kai khaeah angzo thai mak ai.
44Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta, và ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt.
45Tahmaanawk ih Cabu thungah Sithaw mah nihcae to patuk boih tih, tiah tarik ih oh. To pongah mi kawbaktih doeh Pa ih lok to tahngai moe, anih khaeah amtuk kami loe, kai khaeah angzoh.
45Các sách tiên tri có chép rằng: Ai nấy đều sẽ được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Hễ ai đã nghe Cha và học theo Ngài thì đến cùng ta.
46Sithaw khae hoi angzo kami ai ah loe, mi mah doeh Pa to hnu vai ai, Anih khue mah ni Pa to hnuk.
46Aáy chẳng phải kẻ nào đã từng thấy Cha, trừ ra Đấng từ Đức Chúa Trời mà đến; Đấng ấy đã thấy Cha.
47Loktang to, loktang ah, Kang thuih o, mi kawbaktih doeh kai tang kami loe dungzan hinghaih to tawnh boeh.
47Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ ai tin thì được sự sống đời đời.
48Kai loe hinghaih takaw ah ka oh.
48Ta là bánh của sự sống.
49Nam panawk loe praezaek ah manna to caak o moe, duek o.
49Tổ phụ các ngươi đã ăn ma-na trong đồng vắng, rồi cũng chết.
50Hae loe van hoiah angzo tathuk takaw ah oh, mi kawbaktih doeh to takaw caa kami loe dueh mak ai.
50Đây là bánh từ trời xuống, hầu cho ai ăn chẳng hề chết.
51Kai loe van hoiah angzo tathuk hinghaih takaw ah ka oh: mi kawbaktih doeh hae takaw caa kami loe, dungzan ah hing tih: long mah hinghaih tawnh hanah, ka paek han koi takaw loe ka ngan hae boeh ni, tiah a naa.
51Ta là bánh hằng sống từ trên trời xuống; nếu ai ăn bánh ấy, thì sẽ sống vô cùng; và bánh mà ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian tức là thịt ta.
52To pongah Judahnawk angmacae salakah lok angaekhaih to oh, Kawbangmaw hae kami mah caak hanah angmah ih ngan to aicae han paek thai tih? tiah a thuih o.
52Bởi đó, các người Giu-đa cãi lẽ với nhau, mà rằng: Lẽ nào người nầy lấy thịt mình cho chúng ta ăn sao?
53Jesu mah nihcae khaeah, Loktang to, loktang ah, Kang thuih o, Kami capa ih ngan to caak moe, anih ih athii to nae ai ah loe, a thungah hinghaih na tawn o mak ai.
53Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt của Con người, cùng không uống huyết Ngài, thì chẳng có sự sống trong các ngươi đâu.
54Mi kawbaktih doeh ka ngan to caa moe, ka thii to nae kami loe, dungzan hinghaih to tawnh; hnukkhuem niah anih to kang thawksak let han.
54Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại.
55Ka ngan loe buh tangtang ah oh moe, ka thii loe naek koi hmuen tangtang ah oh.
55Vì thịt ta thật là đồ ăn, huyết ta thật là đồ uống.
56Ka ngan to caa moe, ka thii to nae kami loe, anih kai thungah oh, kai doeh anih thungah oh.
56Người nào ăn thịt ta và uống huyết ta, thì ở trong ta, và ta ở trong người.
57Kahing Pa mah ni Kai hae ang patoeh, Kai loe Pa rang hoiah ka hingh; to pongah kai caa kami loe kai rang hoiah hing tih.
57Như Cha, là Đấng hằng sống, đã sai ta đến, và ta sống bởi Cha; cũng một thể ấy, người nào ăn ta, sẽ sống bởi ta vậy.
58Hae loe van hoiah angzo tathuk takaw ah oh: nam panawk mah manna to caak o moe, duek o baktih na ai ah, hae takaw caa kami loe dungzan ah hing tih.
58Đây là bánh từ trên trời xuống. Bánh đó chẳng phải như ma-na mà tổ phụ các ngươi đã ăn,... rồi cũng chết; kẻ nào ăn bánh nầy sẽ sống đời đời.
59Hae loknawk loe Kapernuam avang ih sineko thungah patuk naah thuih.
59Đức Chúa Jêsus phán những điều đó lúc dạy dỗ trong nhà hội tại thành Ca-bê-na-um.
60A hnukbang paroeai kaminawk mah hae lok to thaih o naah, a thuih ih lok loe rai parai; mi mah maw panoek thai tih, tiah a thuih o.
60Có nhiều môn đồ nghe Ngài, thì nói rằng: Lời nầy thật khó; ai nghe được?
61A hnukbang kaminawk laisaep o, tiah Jesu mah panoek naah, anih mah nihcae khaeah, Hae lok pongah palung na boeng o maw?
61Nhưng Đức Chúa Jêsus tự mình biết môn đồ lằm bằm về việc đó, bèn phán rằng: Điều đó xui các ngươi vấp phạm sao?
62To tiah nahaeloe a oh tangsuekhaih ahmuen ah daw tahang Kami Capa na hnuk o naah cae loe, kawbangmaw na om o tih!
62Vậy, nếu các ngươi thấy Con người lên nơi Ngài vốn ở khi trước thì thể nào?
63Hinghaih loe Muithla mah ni paek; taksa loe avanghaih om ai: kang thuih o ih loknawk loe Muithla ah oh pongah, hinghaih to oh.
63Aáy là thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống.
64Toe nangcae thung ih thoemto kaminawk mah loe tang o ai, tiah a naa. Jesu mah loe tangsuek nathuem hoiah boeh ni, nihcae loe kawbaktih kami maw, tanghaih tawn ai kami loe mi maw, mi mah maw anih to angphat taak tih, tiah panoek coek boeh.
64Song trong vòng các ngươi có kẻ không tin. Vì Đức Chúa Jêsus biết từ ban đầu, ai là kẻ không tin, ai là kẻ sẽ phản Ngài.
65To pongah ni anih mah, Kam Pa mah anih han paek ai ah loe, mi kawbaktih doeh kai khaeah angzo thai mak ai, tiah kang thuih o, tiah a naa.
65Ngài lại phán rằng: Chính vì cớ đó, mà ta đã nói cùng các ngươi rằng nếu Cha chẳng ban cho, thì chẳng ai tới cùng ta được.
66To nathuem hoiah loe pop parai a hnukbang kaminawk mah anih to angqoi o taak boih, anih hoi nawnto caeh o ai boeh.
66Từ lúc ấy, có nhiều môn đồ Ngài trở lui, không đi với Ngài nữa.
67Jesu mah hatlai hnettonawk khaeah, Nangcae doeh angqoi ving han na koeh o maw? tiah a naa.
67Đức Chúa Jêsus phán cùng mười hai sứ đồ rằng: Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng?
68Simon Piter mah anih khaeah, Angraeng, na lok ah ni dungzan hinghaih to oh, mi khaeah maw ka caeh o han?
68Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời;
69Nang loe kahing Sithaw Capa, Kri ni, tiah kang panoek o moe, kang tang o boeh, tiah a naa.
69chúng tôi đã tin, và nhận biết rằng Chúa là Đấng thánh của Đức Chúa Trời.
70Jesu mah nihcae khaeah, Kaimah na ai maw nangcae hatlai hnettonawk to kang qoih? Toe nangcae thung ih kami maeto loe taqawk sae ah oh ving, tiah a naa.
70Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ!
71Simon capa Juda Iskariot to thuih koehhaih ih ni: anih loe hatlai hnetto thungah kathum maeto ah oh, toe hnukhuem ah loe Jesu to angphat taak ving.
71Vả, Ngài nói về Giu-đa con Si-môn ỗch-ca-ri-ốt; vì chính hắn là một trong mười hai sứ đồ, sau sẽ phản Ngài.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.