Job 31
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Tangla to koehhaih mik hoiah ka khet han ai ah, ka mik hoi lokkamhaih to ka sak.
1Tôi đã có lập ước với mắt tôi; Vậy, làm sao tôi còn dám nhìn người nữ đồng trinh?
2To tiah nahaeloe Sithaw mah ranui bang hoiah kawbaktih taham maw paek ueloe, ranui ih Thacak Sithaw mah kawbaktih toep han koi qawk maw paek tih?
2Vì phần do Đức Chúa Trời ở trên trời, Và cơ nghiệp do Đấng Toàn năng ở nơi cao, là gì?
3Kasae kaminawk hanah amrohaih om ueloe, zaehaih sah kaminawk hanah anghmathaih om mak ai maw?
3Há chẳng phải sự tai họa cho kẻ gian ác, Và sự hư hại cho kẻ làm dữ sao?
4Anih mah loe ka caehhaih loklamnawk to panoek moe, ka khok tangkannawk doeh kroek boih na ai maw?
4Chớ thì Đức Chúa Trời chẳng thấy đường lối tôi, Và đếm các bước tôi sao?
5Amsoem ai ah ka caeh moe, alinghaih bangah ka khok tangkan to rang nahaeloe,
5Nếu tôi có ăn ở cách dối trá, Và chân tôi vội vàng theo chước gian giảo,
6kamsoem coih tahhaih hoiah na tah nasoe loe, coek koi om ai ah kho ka sakhaih to Sithaw mah panoek nasoe.
6Nguyện Đức Chúa Trời cân tôi trên cân thăng bằng, Thì Ngài sẽ nhìn biết sự thanh liêm của tôi.
7Loklam kam khraeng ving moe, ka palungthin mah ka mik koehhaih hnukah patom moeng maw, to tih ai boeh loe ka ban ah panuet thok hmuen maw akap moeng nahaeloe,
7Nếu chân tôi trở bước bỏ đường chánh đáng, Và lòng tôi đi theo con mắt tôi, Nếu có sự ô uế chi dính vào tay tôi,
8ka patit ih thingthai to minawk kalah mah caa nasoe, ue, ka patit ih akungnawk doeh aphong o king nasoe.
8Nguyện tôi gieo, và có kẻ khác gặt hái, Nguyện thổ sản tôi bị nhổ đi!
9Nongpata maeto mah ka palung hae pacuek moe, ka imtaeng kami ih khongkha ah anih to ka zing nahaeloe,
9Nếu lòng tôi bị người nữ quyến dụ, Nếu tôi rình rập ở nơi cửa của lân cận tôi,
10ka zu mah minawk ih cang to daeng pae nasoe loe, minawk mah ka zu to muk o nasoe.
10Nguyện vợ tôi xây cối cho người khác, Và có kẻ khác nằm cùng nàng.
11Hae hmuen loe kalen parai zaehaih ah oh; ue, lokcaekkung mah danpaek han koi zaehaih ah oh.
11Vì điều ấy vốn tội trọng gớm ghê, Một tội ác đáng bị quan xét đoán phạt:
12To zaehaih loe amrosak thaih hmai, ka tawnh ih hmuennawk tangzuun khoek to kangh boih hmai ah oh.
12Tội ấy là một ngọn lửa thiêu hóa cho đến chốn trầm luân, Tàn hại các của cải tôi đến tận cùng.
13Ka tamna nongpa hoi nongpatanawk mah kai laisaep o thuih naah, nihcae to khet ka patoek nahaeloe,
13Nếu tôi có khinh duyên cớ của tôi trai tớ gái tôi, Lúc chúng nó tranh luận với tôi,
14Sithaw amtueng naah timaw ka sak moe, lokcaek naah timaw ka pathim han?
14Thì tôi sẽ làm sao khi Đức Chúa Trời chổi dậy? Khi Ngài đến thẩm sát tôi, tôi sẽ đáp sao?
15Anih doeh kai sahkung Sithaw mah na ai maw sak? Kaihnik loe sahkung maeto mah na ai maw zok thungah sak hmaek?
15Đấng đã tạo thành tôi trong lòng mẹ tôi, Há chẳng có dựng nên chúng nó sao? Há chẳng phải cũng một Đức Chúa Trời dựng nên chúng ta trong lòng mẹ sao?
16Caaknaek tawn ai kami hanah caaknaek ka paek ai maw, lamhmai ih mik to kam rosak maw,
16Nếu tôi từ chối điều kẻ nghèo khổ ước ao, Gây cho mắt người góa bụa bị hao mòn,
17to tih ai boeh loe amno ampa tawn ai kaminawk hanah caaknaek paek ai ah, kaimabueng ah ka caak maw,
17Nếu tôi có ăn bánh tôi một mình, Và kẻ mồ côi chẳng có được ăn với;
18(ka thendoeng nathuem hoi ampa ah angcoeng khoek to caaknaek tawn ai kami to ka pacah, ka tapen tangsuek natuem hoi anih to ka bomh boeh;)
18Thật từ lúc tôi còn trẻ, nó cùng lớn lên với tôi như con với cha; Còn người góa bụa, tôi đã nâng đỡ từ khi tôi lọt lòng mẹ tôi;
19khukbuen tawn ai ah dueh kami hoi khukbuen tawn ai ah kaom amtang kami to ka hnuk moe,
19Nếu tôi có thấy người nào thác vì không quần áo, Và kẻ nghèo thiếu chẳng có mềm;
20kai mah anih to bae um ah tuumui kang khuksak ai pongah, anih mah kai tahamhoihaih paek ai maw,
20Nếu lòng người không chúc phước cho tôi, Và người không nhờ lông chiên tôi mà được ấm áp;
21lokcaekhaih im ah kai angdoe haih kami om tih hmang, tiah ka poek pongah, amno ampa tawn ai kami to ka pacaekthlaek nahaeloe,
21Nếu tôi có giơ tay hiếp kẻ mồ côi, Bởi vì tôi thấy có kẻ phù trợ tôi trong cửa thành;
22ka ban tampawk hae palaeng hoiah amkhraeng ving nasoe loe, ka palaeng huh doeh angkhaek lawt nasoe.
22Nguyện cho vai tôi rớt ra khỏi nơi khác, Và cánh tay tôi bị gẫy rứt ra đi!
23Sithaw khae hoi ih amrohaih to ka zit, a Lensawkhaih to ka zit pongah to baktih hmuen to ka sah ai.
23Vì sự tai họa từ Đức Chúa Trời giáng xuống làm tôi kinh khiếp, Và trước mặt sự oai nghiêm Ngài, Tôi nào làm chi được.
24Sui to kang oep haih maw, to tih ai boeh loe kaciim suitui khaeah, Nang loe ka buephaih ah na oh, tiah ka thuih moeng maw,
24Nếu tôi có để lòng tin cậy nơi vàng, Và nói với vàng ròng rằng: Ngươi là sự nương nhờ của ta;
25hmuenmae paroeai ka tawnh moe, ka ban mah hmuenmae paroeai hak thaih pongah kam oek moeng maw,
25Nếu tôi vui mừng về tài vật tôi nhiều, Và vì tay tôi đã được lắm của;
26ni aengh to ka khet moe, a aanghaih hoiah kacaeh khrah to ka khet naah,
26Nếu tôi có thấy mặt trời chiếu sáng, Và mặt trăng mọc lên soi tỏ,
27tamquta hoi anghoehaih ka tawnh moe, ka pakha mah ka ban hae mok cadoeh;
27Nếu lòng tôi có thầm mê hoặc, Và miệng tôi hôn gởi tay tôi;
28lokcaek koi kaom zaehaih ah ni oh, ranui koekah kaom Sithaw angphat taak baktiah ni oh.
28Điều đó cũng là một tội ác đáng bị quan xét phạt; Vì nếu làm vậy, tôi đã từ chối Đức Chúa Trời trên cao kia.
29Kai hnuma kami amro naah, kang hoe moe, anih raihaih tongh naah, kam oek vai maw,
29Nếu tôi có vui mừng vì cớ tàn hại kẻ ghét tôi, Và hứng lòng khi tai vạ giáng cho nó;
30a hinghaih tangoeng moe, zaehaih sak hanah pakha ka aang mak ai.
30Trái lại tôi không cho phép miệng tôi phạm tội, Mà lấy sự rủa sả trù ẻo, nguyện hại mạng sống nó;
31Ka imthung ah kaom kaminawk mah, zok kamhah ah Job ih moi caa o vai ai, tiah thui o mak ai.
31Nếu các người nhà tôi chẳng có nói: “Ai sẽ tìm được người nào không được ăn no nê thịt súc vật người?”
32Angvinnawk loklam ah iih o han ai ah, kholong caeh kaminawk hanah khongkha to ka paongh pae.
32Người lạ không có ngủ đêm ở ngoài đường; Tôi mở cửa cho kẻ hành khách;
33Adam baktiah ka zaehaih ka hawk ai, ka zaehaih palung thungah ka hawk vai ai;
33Nếu tôi có che tội mình như A-đam, Mà giấu sự gian ác mình ở trong lòng,
34pop parai kami to ka zit, to tih ai boeh loe acaeng kaminawk mah pahnui thui haih to ka zit pongah, kang hngai duem moe, tasa bang tacawt ai ah ka oh vai maw?
34Tại vì tôi kinh hãi chúng đông, Và e sợ bị họ hàng khinh bỉ, Đến đổi ở yên lặng, chẳng dám bước ra khỏi cửa.
35Aw kami maeto mah loe ka lok hae tahngai nasoe! Khenah, vaihi koehhaih lok ka thuih han vop; Thacak Sithaw mah na pathim nasoe; ka zaehaih netkung mah ka zaehaih hae ca ah tarik nasoe.
35Oâi! Chớ chi có một người nghe tôi! Nầy là dấu hiệu tôi ký, Nguyện Đấng Toàn năng đáp lời tôi; Nguyện kẻ cừu nghịch tôi làm một trạng từ!
36To ca to palaeng ah ka put moe, sui lumuek baktiah kang muek han.
36Tôi quả hẳn sẽ mang trạng từ ấy trên vai mình, Đội nó trên đầu tôi như một mão triều thiên.
37Ka caehhaih khok tangkannawk anih khaeah ka thuih moe, siangpahrang capa baktiah a taengah ka caeh han.
37Aét tôi sẽ thuật cho cừu địch biết số bước tôi, Đến trước mặt nó như một vua chúa.
38Kai ih long mah kai hae kasae thuih maw, to tih ai boeh loe mikkhraetui hoiah a qah maw,
38Nếu đất tôi kêu cáo tôi, Các giòng cày nó khóc với nhau;
39atho paek ai ah anih ih thingthai to ka caak pae moe, laikok tawnkungnawk hinghaih to kam rosak nahaeloe,
39Nếu tôi ăn sản vật nó mà không trả giá bạc, Làm khuấy khuất nguyên chủ nó cho đến phải chết mất;
40cang zuengah soekhringkung amprawk nasoe loe, barli cang zuengah phroh amprawk lat nasoe, tiah a naa. Job ih lok loe hae ah boeng boeh.
40Nguyện gai góc mọc thay lúa miến, Và cỏ lùng thế cho lúa mạch! Đến đây hết lời của Gióp.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.