Job
Chapter 3
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Hae tiah oh pacoengah, Job mah pakha aangh moe, angmah tapenhaih ni to kasae thuih.
1Sau việc ấy, Gióp mở miệng rủa ngày sanh mình.
2Job mah hae tiah thuih,
2Gióp bèn cất tiếng nói rằng:
3ka tapenhaih ni hae amro nasoe, ca nongpa pomh boeh, tiah thuihaih aqum to amro nasoe.
3Ngày ta đã sanh ra, khá hư mất đi; Còn đêm đã nói rằng: Có được thai dựng một con trai, hãy tiêu diệt đi!
4To ni to khoving nasoe; ranui bang ih Sithaw mah tidoeh sah pae hmah nasoe; a nuiah aanghaih doeh om hmah nasoe.
4Nguyện ngày ấy bị ra tăm tối! Nguyện Đức Chúa Trời từ trên cao chớ thèm kể đến, Và ánh sáng đừng chiếu trên nó!
5Vinghaih hoi duekhaih tahlip mah to ani to kai ih ani ni, tiah thui o nasoe; a nuiah tamai amzam nasoe loe, kaving ani mah pazih nasoe.
5Chớ gì tối tăm và bóng sự chết nhìn nhận nó, Aùng mây kéo phủ trên nó, Và nhựt thực làm cho nó kinh khiếp.
6To ni to vinghaih kathah mah khuk khoep nasoe; saningto thung kaom aninawk thungah athum hmah nasoe loe, kawbaktih khrah thungah doeh kroek ah om hmah nasoe.
6Nguyện sự tối tăm mịt mịt hãm lấy đêm ấy; Chớ cho nó đồng lạc với các ngày của năm; Đừng kể nó vào số của các tháng!
7Khenah, to aqum loe angqai krang nasoe loe, a thungah anghoehaih lok om hmah nasoe.
7Phải, nguyện cho đêm ấy bị son sẻ; Tiếng vui cười chớ vang ra trong khoảng nó!
8Ani tangoeng kami, palungsethaih angthawksak thaih kaminawk mah to aqum to tangoeng o nasoe.
8Ai hay rủa sả ngày, và có tài chọc Lê-vi-a-than dậy, Hãy rủa sả nó!
9Akhawnbang cakaehnawk loe ving o nasoe loe, a zing o ih khodai to hnu o hmah nasoe, akhawnbang khodai doeh hnu o hmah nasoe;
9Nguyện sao chạng vạng đêm ấy phải tối tăm; Nó mong ánh sáng, mà ánh sáng lại chẳng có, Chớ cho nó thấy rạng đông mở ra!
10raihaih ka tongh han ai ah, aqum mah kam no ih zok to pakaa ai pongah kasae ah om nasoe.
10Bởi vì đêm ấy không bế cửa lòng hoài thai ta, Chẳng có giấu sự đau đớn khỏi mắt ta.
11Tipongah maw zok thungah ka duek moe, tapen tangsuek naah kam ro ving ai?
11Nhân sao tôi chẳng chết từ trong tử cung? Nhân sao không tắt hơi khi lọt lòng mẹ.?
12Tih han ih khokkhu nuiah ang tapom moe, naek hanah tahnu ang pazohsak?
12Cớ sao hai đầu gối đỡ lấy tôi, Và vú để cho tôi bú?
13To tiah na sah ai nahaeloe vaihi loe kamongah kang song moe, kang hngai duem han boeh; ka iip ueloe, kang hak tih boeh,
13Bằng chẳng vậy, bây giờ ắt tôi đã nằm an tịnh, Được ngủ và nghỉ ngơi
14angmacae amro haih hanah toksah long siangpahrangnawk hoi angraengnawk,
14Cùng các vua và mưu sĩ của thế gian, Đã cất mình những lăng tẩm;
15to tih ai boeh loe sui katawn mangh, im koimong ah sumkanglung kasuem ukkungnawk hoi nawnto ka laem tih boeh,
15Hoặc với các quan trưởng có vàng, Và chất bạc đầy cung điện mình.
16to tih ai boeh loe khrah akoep ai ah tapen nawkta baktih, aanghaih hnu vai ai nawkta baktiah amro han ka koeh boeh.
16Hoặc tôi chẳng hề có, như một thai sảo biệt tăm, Giống các con trẻ không thấy ánh sáng.
17To duekhaih ahmuen ah loe kasae kaminawk mah raihaih paek mak ai boeh; patangkhang kaminawk doeh anghak o tih boeh.
17ỳ đó kẻ hung ác thôi rày rạc, Và các người mỏn sức được an nghỉ;
18To ahmuen ah loe thongkrah kaminawk doeh nawnto anghak o; pacaekthlaek kami ih lok to thaih o ai boeh.
18ỳ đó những kẻ bị tù đồng nhau được bình tịnh, Không còn nghe tiếng của kẻ hà hiếp nữa.
19To ahmuen ah loe kami kalen doeh, kathoeng doeh nawnto oh o moe, tamna doeh angmah ih angraeng ban thung hoiah loih boeh.
19Tại nơi ấy nhỏ và lớn đều ở cùng nhau, Và kẻ tôi mọi được phóng khỏi ách chủ mình.
20Tipongah maw patangkhang kami hanah aanghaih paek moe, poeksae kami hanah hinghaih to paek?
20Cớ sao ban ánh sáng cho kẻ hoạn nạn, Và sanh mạng cho kẻ có lòng đầy đắng cay?
21Patangkhang kaminawk loe atho kana hmuennawk pakrong pongah duek han ih koeh o kue, toe dueh o thai ai;
21Người như thế mong chết, mà lại không được chết; Cầu thác hơn là tìm kiếm bửu vật giấu kín;
22nihcae mah taprong hnuk o naah, paroeai anghoe o moe, nawm o.
22Khi người ấy tìm được mồ mả, Thì vui vẻ và nức lòng mừng rỡ thay,
23Tipongah maw a caehhaih loklam anghmang kami hoi Sithaw mah pakaa ih kami khaeah hinghaih to paek?
23Người nào không biết đường mình phải theo, Và bị Đức Chúa Trời vây bọc bốn bên, sao lại được sự sống?
24Buhcaak zuengah kana ahamhaih lok to oh, kana hanghaih lok loe tui baktiah long.
24Vì trước khi ăn, tôi đã than siếc, Tiếng kêu vang tôi tuôn tôi như nước.
25Ka zit parai ih hmuen to ka nuiah phak boeh, ka zit ih hmuen kai khaeah angzoh boeh.
25Vì việc tôi sợ hãi đã thấu đến tôi; Điều tôi kinh khủng lại xảy ra cho tôi.
26Kai loe monghaih tawn ai, anghakhaih doeh ka tawn ai; raihaih hoiah ni ka oh sut boeh, tiah a thuih.
26Tôi chẳng được an lạc, chẳng được bình tịnh, chẳng được an nghỉ; Song nỗi rối loạn đã áp đến!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.