Ioba 4
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LAILA pane mai la o Elipaza no Temana, i mai la,
1Bấy giờ, Ê-li-pha, người Thê-man đáp lời mà rằng:
2A i hoao makou e kamailio pu me oe, e uluhua anei oe? Aka, owai la ka mea hiki ke uumi i ka olelo?
2Nếu người ta thử nói với ông, ông sẽ mất lòng chăng? Nhưng ai cầm giữ mình không nói sao được?
3Aia hoi; ua ao aku oe i na mea he nui, A ua hooikaika oe i na lima nawaliwali.
3Kìa, ông đã dạy dỗ nhiều người, Và làm cho tay yếu đuối ra mạnh mẽ;
4Ua kukulu iluna kau olelo i ka mea e hina ana, A ua hookupaa oe i na kuli e hemo ana.
4Các lời nói ông đã đỡ kẻ xiêu tó lên, Và đầu gối lung lay, ông đã làm cho vững bền.
5Ano hoi, ua hiki mai ia maluna ou, a ua maule oe, Ua hoopa mai ia ia oe, a ua popilikia oe.
5Nhưng bây giờ tai nạn xảy đến ông, ông lại giận; Nó lâm vào ông, thì ông bị rối lòng.
6Aole anei keia kou makau, a me kou manaolana, O kou mea i kuko ai, a me ka pololei o kou mau aoao?
6Oâng kính sợ Đức Chúa Trời, ấy há chẳng phải nơi nương nhờ của ông? Tánh hạnh hoàn toàn của ông, há chẳng phải sự trông cậy của ông sao?
7Ke noi aku nei au, e hoomanao oe, owai ka mea hala ole i make wale? Auhea hoi ka poe pono i hookiia'ku?
7Oâng hãy suy xét lại, nào bao giờ có kẻ vô tội bị hư mất? Đâu có người ngay thẳng lại bị trừ diệt?
8E like me ka'u i ike ai, O na mea i waele ino, a mahi hewa, ohi no lakou ia mea hookahi.
8Theo điều tôi đã thấy, ai cày sự gian ác, Và gieo điều khuấy rối, thì lại gặt lấy nó.
9Ma ka ha ana o ke Akua ua make lakou, A ma ka hanu o kona mau puka ihu ua hoopauia lakou.
9Bởi hơi thở Đức Chúa Trời, chúng bèn hư mất, Tại hơi xịt giận Ngài, họ bị tiêu hao đi.
10O ka uwo ana o ka liona, o ka leo o ka liona hae, A o na niho o na liona hou, ua haki.
10Tiếng gầm của sư tử, và giọng sư tử hét đã êm lặng, Và nanh của các sư tử con bị gãy.
11O ka liona, ua make ia no ka nele o ka mea pio, A o na keiki o ka liona wahine, ua hele liilii lakou.
11Sư tử mạnh bạo chết vì thiếu mồi, Và các sư tử con bị tản lạc.
12Ua lawe malu ia mai kekahi olelo ia'u, A ua loaa i kuu pepeiao ka lohe iki o ia mea.
12Có một lời mật thấu đến tôi, Lỗ tai tôi văng vẳng nghe tiếng ấy,
13Iloko o na manao ma na moeuhane i ka po, I ka manawa i pauhia ai na kanaka i ka hiamoe,
13Ban đêm đang khi loài người ngủ mê, Lòng tôi suy tưởng, bèn thấy dị tượng,
14Hiki mai ka makau ia'u a me ka haalulu, A hoohaalulu mai ia i ka nui o ko'u mau iwi.
14Sự kinh khủng sợ hãi xông hãm tôi, Khiến xương cốt tôi run rẩy.
15Alaila maale ae la he uhane imua o ko'u maka; Ku iho la iluna ka hulu o ko'u io:
15Có một thần đi ngang qua trước mặt tôi; Các lông tóc của thịt tôi bèn xửng lên.
16Ku malie iho la ia, aole au i ike i kona ano; He kii imua o kou mau maka, He makani uuku, a he leo ka'u i lohe:
16Thần đứng đó, tôi nhìn không biết mặt người; Có một hình dạng ở trước mặt tôi. Tôi nghe tiếng thầm thì nho nhỏ, mà rằng:
17E oi anei ka pono o ke kanaka mamua o ko ke Akua? He oi anei ka maemae o ke kanaka mamua o ka Mea nana ia i hana?
17“Loài người hay chết, há công bình hơn Đức Chúa Trời ư? Loài người há được trong sạch hơn Đấng Tạo hóa mình sao?”
18Aia hoi, aole ia i hilinai i kana poe kauwa, A hooili no ia i ka hewa maluna o kona poe anela:
18Kìa, Đức Chúa Trời không tin cậy các tôi tớ Ngài, Ngài thường trách sự điên dại của thiên sứ Ngài.
19Heaha la hoi ka poe e noho ana i na hale lepo, Ha ka lepo ko lakou hookumu ana, ua ulupaia lakou imua o ka mu?
19Phương chi những kẻ ở chòi đất sét được cất trên nền bụi cát, Bị chà nát như loài sâu mọt!
20Ua lukuia lakou mai kakahiaka a ke ahiahi: Ua make loa lakou, aohe mea nana i manao.
20Giữa khoảng sáng đến chiều, chúng bị hư nát; Hằng chết luôn luôn, mà chẳng có ai lưu ý đến.
21Aole anei e nalo wale aku ko lakou maikai ana? Make no lakou me ka naauao ole.
21Dây chằng của chúng há chẳng bị dứt trong mình họ sao? Chúng thác, nào được khôn ngoan chi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.