Ioba
Chapter 42
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LAILA olelo o Ioba ia Iehova, i aku la,
1Gióp thưa với Đức Chúa Trời rằng:
2Ua ike no au, e hiki no ia oe na mea a pau; Aohe manao ou e pono ke keakeaia.
2Tôi biết rằng Chúa có thể làm được mọi sự, Chẳng có ý chỉ nào Chúa lấy làm khó lắm.
3Owai ka mea e hoopouli ana i ka olelo ao me ka ike ole? Nolaila, ua hai aku au, aole au i noonoo pono; Na mea kupanaha, aole au i ike.
3Kẻ nầy là ai, không hiểu biết gì, lại dám che ám ý chỉ của Chúa? Phải, tôi đã nói những điều tôi không hiểu đến, Tức các sự lạ lùng quá cho tôi, mà tôi chẳng thông biết.
4Ke noi aku nei au ia oe e hoolohe mai, a na'u e olelo aku; E ninau aku au ia oe, a e hoike mai oe ia'u.
4Hỡi Chúa, xin hãy nghe, tôi sẽ nói; Tôi sẽ hỏi Chúa, Chúa sẽ chỉ dạy cho tôi.
5Ua lohe au ia oe ma ka lohe pepeiao, Aka, ano, ke ike nei ko'u maka ia oe.
5Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, Nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài:
6Nolaila ke hoowahawaha nei au ia'u iho, Ke mihi hoi au iloko o ka lepo a me ka lehu.
6Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, Và ăn năn trong tro bụi.
7A mahope o ka Iehova olelo ana'ku i keia mau olelo ia Ioba, olelo mai la o Iehova ia Elipaza, no Temana, Ua hoaia ko'u huhu ia oe, a i kau mau hoalauna elua: no ka mea, aole oukou i olelo mai no'u i ka mea pono, e like me ka'u kauwa, o Ioba.
7Xảy sau khi Đức Giê-hô-va đã phán các lời ấy với Gióp, thì Ngài phán cùng Ê-li-pha, người Thê-man, mà rằng: Cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng ngươi và hai bạn hữu ngươi; bởi vì các ngươi không có nói về ta cách xứng đáng, y như Gióp, kẻ tôi tớ ta, đã nói.
8Ano hoi, e lawe oukou no oukou iho i ehiku bipikane, a i ehiku hipakane, a e hele aku i ka'u kauwa ia Ioba, a e kaumaha i mohaikuni no oukou; a e pule aku o Ioba ka'u kauwa no oukou; no ka mea, oia ka'u e maliu ai, o hana aku au ia oukou e like me ka oukou lapuwale; no ka mea, aole oukou i olelo mai no'u i ka mea pono e like me ka'u kauwa, o Ioba.
8Vậy bây giờ, hãy bắt bảy con bò đực và bảy con chiên đực đi đến Gióp, kẻ tôi tớ ta, mà vì các ngươi dâng lên một của lễ thiêu; rồi Gióp, kẻ tôi tớ ta sẽ cầu nguyện cho các ngươi; vì ta sẽ nhậm lời người, kẻo e ta đãi các ngươi tùy theo sự ngu muội của các ngươi; vì các ngươi không có nói về ta cách xứng đáng, như Gióp, kẻ tôi tớ ta, đã nói.
9A o Elipaza no Temana, o Biledada no Suha, a me Zopara no Naama, hele aku la lakou, a hana aku e like me ka Iehova i kauoha mai ai ia lakou: a maliu mai o Iehova ia Ioba.
9Vậy, Ê-li-pha, người Thê-man, Binh-đát, người Su-a, Sô-pha, người Na-a-ma, bèn đi và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình; rồi Đức Giê-hô-va nhậm lời của Gióp.
10A hoololi ae la o Iehova i ke pio ana o Ioba, i ka manawa i pule aku ai ia no kona mau hoalauna: a haawi palua aku la o Iehova i ka Ioba mau mea a pau.
10Vậy, khi Gióp đã cầu nguyện cho bạn hữu mình rồi, Đức Giê-hô-va bèn đem người ra khỏi cảnh khốn người, và ban lại cho Gióp bằng gấp bằng hai các tài sản mà người đã có trước.
11Alaila hele mai io Ioba la kona mau hoahanau a pau, a me kona mau kaikuwahine a pau, a me kona poe ike a pau mamua, a ai pu iho la lakou me ia i ka ai ma kona hale; a uwe lakou ia ia, a hooluolu aku ia ia no na mea ino a pau a Iehova i lawe mai ai maluna ona; a haawi aku kela kanaka keia kanaka ia ia i wahi kala, a o kela kanaka keia kanaka i wahi apo gula.
11Hết thảy anh em người, chị em người, và những người quen biết Gióp từ trước, đều đến thăm và ăn bữa với người tại trong nhà người. Chúng chia buồn và an ủi người về các tai họa mà Đức Giê-hô-va đã khiến giáng trên người; mỗi người đều cho Gióp một nén bạc và một cái vòng vàng.
12A hoomaikai o Iehova i ka hope o Ioba, mamua o kona mua: no ka mea, he umikumamaha ana tausani hipa, he aono tausani kamelo, a hookahi tausani kaulua bipi, a hookahi tausani hoki wahine.
12Như vậy, Đức Giê-hô-va ban phước cho buổi già của Gióp nhiều hơn lúc đang thì: người được mười bốn ngàn chiên, sáu ngàn lạc đà, một ngàn đôi bò, và một ngàn lừa cái.
13Ehiku hoi ana mau keikikane, a ekolu kaikamahine.
13Người cũng có bảy con trai và ba con gái.
14A kapa aku la ia i ka inoa o ka mua, o Iemima; a i ka inoa o ka lua, o Kezia; a i ka inoa o ke kolu, o Kerenehapuka.
14Người đặt tên cho con gái lớn là Giê-mi-ma; con thứ nhì là Kê-xia, và con thứ ba là Kê-ren-Ha-búc.
15Aole i loaa na wahine maikai e like me na kaikamahine a Ioba ma ka aina a pau; a haawi aku ko lakou makuakane i hooilina mawaena o ko lakou mau hoahanau.
15Trong toàn xứ chẳng có người nữ nào lịch sự bằng ba con gái của Gióp. Cha của họ cho họ một phần cơ nghiệp trong anh em họ.
16A mahope o keia, ola iho la o Ioba i na makahiki hookahi haneri a me ke kanaha, a ike aku la ia i kana mau keiki, a me na keiki a kana mau keiki, i eha mau hanauna.
16Sau việc ấy, Gióp còn sống một trăm bốn mươi năm; người thấy các con trai, cháu, chít mình đến đời thứ tư.
17A make iho la o Ioba, he elemakule, a he nui kona mau la.
17Rồi Gióp qua đời tuổi cao tác lớn.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.