Ioba 34
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A OLELO aku o Elihu, i aku la,
1Ê-li-hu lại cất tiếng mà nói rằng:
2E hoolohe mai oukou ia'u, e ka poe akamai, E haliu mai i ka pepeiao ia'u, e ka poe ike:
2Hỡi các người khôn ngoan, hãy nghe những lời nói tôi; ù kẻ thông sáng, hãy lắng tai nghe tôi;
3No ka mea, ke hoao nei ka pepeiao i na olelo, E like me ke kileo i hoao i ka ai.
3Vì lỗ tai thử những lời nói, Như ổ gà nếm lấy đồ ăn,
4E hoao kakou i ka hooponopono no kakou iho; E ike kakou iwaena o kakou i ka mea maikai.
4Chúng ta hãy chọn cho mình điều phải, Chung nhau nhìn biết việc tốt lành.
5No ka mea, ua i mai o Ioba, Ua pono wau: A ua lawe aku ke Akua i kuu hoaponoia.
5Vì Gióp có nói rằng: “Tôi vốn là công bình, Nhưng Đức Chúa Trời đã cất sự lý đoán tôi.
6E hoopunipuni anei au i kuu pono? O kuu eha me ka hala ole, aole e hoolaia.
6Tuy tôi ngay thẳng, người ta cho tôi là kẻ nói dối; Dẫu tôi không phạm tội, thương tích tôi không chữa lành được.”
7Owai ke kanaka e like me Ioba; Ka mea inu i ka olelo hoino me he wai la,
7Ai là người giống như Gióp? Người uống lời nhạo báng như thể nước;
8Ka mea e hele pu ana me ka poe e hana ana i ka hewa, E hele ana hoi me na kanaka aia?
8Người kết bạn với kẻ làm hung nghiệt, Và đồng đi với người gian ác?
9No ka mea, ua i mai ia, Aohe o ke kanaka mea e pono ai, I kona launa pu ana me ke Akua.
9Vì người có nói rằng: “Chẳng ích lợi chi cho loài người Tìm kiếm điều vui thích mình nơi Đức Chúa Trời.”
10Nolaila e hoolohe ia'u, e na kanaka naauao; Aole ke Akua e hana i ka hewa; Aole hoi ka Mea mana i ka pono ole:
10Vì vậy, hỡi người thông sáng, hãy nghe tôi: Đức Chúa Trời chẳng hề hành ác, Đấng Toàn năng không bao giờ làm hung nghiệt.
11No ka mea, ma ka hana a ke kanaka e ukuia mai ai oia, A e loaa i kela kanaka keia kanaka e like me kona aoao.
11Ngài báo ứng loài người tùy công việc mình làm, Khiến mỗi người tìm được lại chiếu theo tánh hạnh mình.
12He oiaio no, aole ke Akua e hana i ka hewa, Aole hoi ka Mea mana e hookahuli i ka pono.
12Quả thật Đức Chúa Trời không làm ác, Đấng Toàn năng chẳng trái phép công bình.
13Owai ka i haawi ia ia i ka honua? A owai ka i hoonoho i ko ke ao nei a pau?
13Ai giao cho Ngài trách nhiệm coi sóc trái đất? Ai đặt Ngài cai trị toàn thế gian?
14Ina e kau ia i kona naau maluna o ke kanaka, A e lawe aku ia i kona uhane a me kona ea io na la;
14Nếu Ngài chỉ lo tưởng đến chính mình Ngài, Thâu lại về mình thần linh và hơi thở của Ngài,
15E make pu auanei na io a pau, A e hoi hou aku ke kanaka i ka lepo.
15Thì các loài xác thịt chắc chết chung nhau hết, Và loài người trở vào bụi đất.
16A ina he naauao kou, e hoolohe mai i keia; E haliu mai i ka leo o ka'u olelo.
16Nếu ông có sự thông sáng, hãy nghe điều nầy; Khá lắng tai nghe tiếng lời nói của tôi.
17E alii anei ka mea hoowahawaha i ka pono? A e hoahewa anei oe i ka mea pono loa?
17Chớ thì người nào ghét sự công bình sẽ được cai trị sao? Oâng há dám lên án cho Đấng công bình cao cả ư?
18He pono anei e olelo i ke alii, He hewa kou? A i na'lii, He pono ole oukou?
18Há có nên nói với vua rằng: “Đồ xấu xa nà?” Hay là nói với người tước vị rằng: “Kẻ ác nghiệp mầy?”
19Pehea hoi ka mea maliu ole mai i ko na'lii, Aole hoi ia i manao i ka mea waiwai mamua o ka ilihune? No ka mea, o lakou, a pau ka hana a kona lima.
19Phương chi Đấng chẳng tư vị những vương tử, Chẳng xem kẻ giàu trọng hơn kẻ nghèo; Bởi chúng hết thảy là công việc của tay Ngài.
20E make koke no lakou, Iwaena o ka po e haalulu na kanaka, a e nalo aku; A e laweia'ku ka poe ikaika, me ka lima ole.
20Trong giây phút, giữa ban đêm, chúng đều chết; Bá tánh xiêu tó và qua mất đi, Các kẻ cường quyền bị cất đi, không phải bởi tay loài người.
21No ka mea, aia no kona mau maka maluna o na aoao o ke kanaka, A ua nana no i kona mau kapuwai a pau.
21Vì mắt Đức Chúa Trời xem xét đường lối loài người, Ngài nom các bước họ.
22Aohe pouli, aohe malu make, Kahi e pee ai ka poe e hana ana i ka hewa.
22Chẳng có tối tăm mù mịt nào Cho kẻ làm ác ẩn núp mình được.
23No ka mea, aole ia e noonoo nui i ka ke kanaka, E kai aku ia ia imua o ke Akua ma ka hookolokolo ana.
23Khi Đức Chúa Trời phán xét loài người, Thì chẳng cần khiến họ đến trước mặt Ngài hai lần đặng tra xét.
24E ulupa oia i na'lii me ka noonoo ole, A e hooku i na mea e ae ma ko lakou hakahaka.
24Ngài hủy phá kẻ cường quyền không cần tra soát, Rồi lập kẻ khác thế vào cho;
25Nolaila, ua ike no ia i ka lakou mau hana, A e hookahuli oia ia lakou i ka po, a e hehiia lakou ilalo.
25Bởi vì Chúa biết các công việc chúng, Đánh đổ chúng ban đêm, và chúng bị diệt đi.
26Hoopai no ia ia lakou, no ka mea, ua hewa lakou, Ma kahi o ka poe e nana mai ana;
26Chúa hành hại họ như người ác, Có mắt kẻ khác xem thấy;
27No ka mea, ua huli ae lakou mai ona aku la, Aole lakou i noonoo i kona mau aoao a pau.
27Bởi vì chúng có xây bỏ theo Chúa, Không kể đến các đường lối Ngài.
28Nolaila, e hele ka uwe ana o ka mea hune io na la, A ua hoolohe ia i ka uwe ana o ka poe i hooluhiia.
28Chúng làm cho tiếng kẻ nghèo thấu đến Chúa, Và Chúa nghe tiếng kêu la của kẻ bị gian truân.
29A haawi mai ia i ka maha, owai hoi ke hoopilikia mai? A huna oia i kona maka, owai ke ike aku ia ia? Pela no ka lahuikanaka a me ke kanaka hookahi:
29Khi Ngài ban cho bình an, ai sẽ làm cho rối loạn? Khi Ngài ẩn mắt mình, ai có thể thấy Ngài? Ngài làm như vậy hoặc cho dân tộc nào, hoặc cho người nào,
30I alii ole ai ke kanaka aia, O hihia auanei na kanaka.
30Hầu ngăn trở kẻ gian ác cai trị, Và không ai gài bẫy cho dân sự.
31He pono no e olelo aku oe i ke Akua, Ua hoopaiia wau, aole au e hana hewa hou aku.
31Vì có người nào bao giờ nói với Đức Chúa Trời rằng: “Tôi đã mang chịu sửa phạt tôi, tôi sẽ không làm ác nữa;
32O ka mea a'u i ike ole ai kau e ao mai ai ia'u; Ina ua hana au i ka hewa, aole au e hana hou.
32Điều chi tôi chẳng thấy, xin Chúa chỉ dạy cho tôi; Nếu tôi có làm ác, tôi sẽ chẳng làm lại nữa?
33Ma kou manao anei kana e uku mai ai, no kou hoole ana, Nau no e koho, aole na'u? Nolaila o ka mea au i ike ai, e olelo mai oe.
33Đức Chúa Trời há cứ theo ý tưởng ông mà báo ứng ông sao? Vì ông có bỏ sự báo ứng của Chúa, nên ông phải chọn lựa lấy, chớ chẳng phải tôi; Vậy nên điều ông biết, hãy nói đi.
34O na kanaka naauao e olelo mai ia'u, A me ke kanaka akamai e hoolohe mai ia'u.
34Những người thông sáng, và mỗi người khôn ngoan đang nghe tôi, Sẽ nói với tôi rằng:
35Ua olelo mai o Ioba me ka ike ole, A o kana mau olelo, aole me ka naauao.
35“Gióp nói cách không hiểu biết, Và lời của người thiếu sự thông sáng.”
36O kuu makemake, e hoaoia o Ioba a i ka hopena, No kana mau olelo e like me ka na kanaka hewa.
36Tôi nguyện cho Gióp bị thử thách đến cùng, Bởi vì người có đáp lời như kẻ ác;
37No ka mea, ua hookui aku ia i ka lawehala me kona hewa, Iwaena o kakou ua pai i kona lima, A ua hoonui i kana mau olelo ku e i ke Akua.
37Người có thêm sự phản nghịch vào tội lỗi mình, Vỗ tay mình tại giữa chúng tôi, Và càng thêm lời nói nghịch Đức Chúa Trời.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.