Isaia 31
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A UWE ka poe iho ilalo i Aigupita no ke kokuaia mai. Ka poe i paulele i na lio, a hilinai ma na kaakaua, No ka nui o ia mau mea; A ma na hololio hoi, no ko lakou ikaika nui: Aole hoi e nana aku i ka Mea Hemolele o ka Iseraela, Aole imi aku ma o Iehova la!
1Khốn thay cho những kẻ xuống Ê-díp-tô đặng cầu cứu, nhờ những ngựa, cậy những xe binh vì nó nhiều, và những lính kỵ vì nó mạnh, mà không ngó về Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, và chẳng tìm cầu Đức Giê-hô-va!
2He akamai no hoi oia, A e hoopuka mai no ia i ka hewa, Aole ia e kapae i kana mau olelo; Aka, e ala mai no oia iluna e ku e i ka hale o ka poe hana hewa, E ku e hoi i ka poe kokua i na mea hana hewa.
2Nhưng mà, Ngài cũng là khôn sáng! Aáy chính Ngài là Đấng giáng tai vạ, chẳng hề ăn lời mình. Ngài sẽ dấy lên nghịch cùng nhà kẻ dữ, và nghịch cùng kẻ giúp bọn gian ác.
3No ka mea, he poe kanaka wale no ko Aigupita, aohe akua; He io no ko lakou mau lio, aohe uhane; E hohola mai no o Iehova i kona lima, A e kulanalana auanei ka mea kokua, E hina no hoi ka mea e kokuaia, A e make pu no lakou a pau.
3Vả, người Ê-díp-tô là loài người, không phải là Đức Chúa Trời; những ngựa nó chỉ là xác thịt, không phải là thần. Khi Đức Giê-hô-va sẽ giang tay ra, tức thì kẻ giúp sẽ vấp, kẻ được giúp sẽ ngã, cả hai đều diệt mất.
4No ka mea, penei i olelo mai ai o Iehova ia'u, E like me ka uwo ana o ka liona, A me ka liona hou hoi maluna o ka mea ana i pepehi ai, Ina i akoakoa na kahuhipa he nui loa, e ku e ia ia, Aole ia e makau i ko lakou leo, Aole hoi e kulou ilalo no ka lehulehu o lakou: Pela no o Iehova o na kaua e iho mai ai, E kaua mamuli o ka mauna o Ziona, Mamuli hoi o ko laila puu.
4Vì Đức Giê-hô-va đã phán cùng ta như vầy: Như sư tử hoặc sư tử con bắt được mồi và gầm thét, mặc dầu bọn chăn chiên nhóm lại thành đoàn, nó cũng chẳng thấy kêu mà rùng, thấy động mà sợ; đồng một thể ấy, Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ xuống đặng đánh trận trên núi Si-ôn và trên đồi nó.
5E like me na manu lele, pela no o Iehova o na kaua e malama mai ai ia Ierusalema; I kona malama ana, e hoopakele no oia ia wahi, I kona hele ana ae, e hoola mai no oia.
5Như chim bay liệng thể nào, đồng một thể ấy, Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ che chở Giê-ru-sa-lem. Ngài sẽ che chở và cứu vớt cho, sẽ vuợt qua và gìn giữ cho.
6E huli oukou i ka mea a ua mamo a Iseraela i haalele ino ai:
6Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, vậy hãy trở lại cùng Đấng mà các ngươi đã dấy loạn nghịch cùng,
7No ka mea, i kela la, E kiola aku no ke kanaka i kona mau akuakii kala, A me kona mau akuakii gula, I na mea a ko oukou mau lima i hana hewa ai no oukou.
7vì trong ngày đó, ai nấy sẽ bỏ thần tượng mình bằng bạc bằng vàng, là đồ các ngươi đã dùng chính tay mình làm mà phạm tội.
8A e haule no ko Asuria i ka pahikaua, aole nae i ko ke kanaka, E ai no ka pahikaua ia ia, aole nae o ko ke kanaka; E auhee no ia, mai ke alo aku o ka pahikaua, A e auhauia kona poe kanaka ui.
8A-si-ri sẽ ngã dưới gươm, chẳng phải gươm của loài người; và cái gươm mà chẳng phải là gươm của người ta sẽ nuốt nó. Nó sẽ trốn khỏi gươm đó, và những kẻ trai trẻ nó sẽ phải chịu khổ dịch.
9E hele aku no ia i kona pohaku, no ka makau. A e makau no kona poe alii no ka hae, Wahi a Iehova, ka mea nana ke ahi ma Ziona, A nana hoi ke kapuahi ma Ierusalema.
9Vầng đá nó sẽ qua đi vì sự kinh hãi, các quan trưởng nó sẽ kính sợ vì cờ xí, Đức Giê-hô-va phán như vậy, tức là Đấng có lửa tại Si-ôn, có lò tại Giê-ru-sa-lem.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.