Isaia
Chapter 14
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LAILA, e aloha mai no o Iehova i ka Iakoba, E olioli hou no ia i ka Iseraela, A e hoomaha ia lakou ma ko lakou aina iho; A e hui pu ia na malihini me lakou, A e hoopili lakou i ko ka hale o Iakoba.
1Thật, Đức Giê-hô-va sẽ thương xót Gia-cốp; và còn lựa chọn Y-sơ-ra-ên. Ngài sẽ lập chúng nó lại trong bản xứ; kẻ trú ngụ sẽ phụ về chúng nó và liên hiệp cùng nhà Gia-cốp.
2E lawe na lahuikanaka ia lakou, A e hoihoi ia lakou i ko lakou wahi iho; A e noho no lakou mamuli o ko ka hale o ka Iseraela, I kauwakane, a i kauwawahine, ma ka aina o Iehova; A e lawe pio lakou i ka poe i hoopio ai ia lakou, A e noho alii lakou maluna o ka poe nana lakou i hookaumaha.
2Các dân sẽ đem họ trở về bản xứ; nhà Y-sơ-ra-ên sẽ được chúng nó làm tôi trai tớ gái trong đất Đức Giê-hô-va. Chúng nó sẽ bắt làm phu tù những kẻ đã bắt mình làm phu tù, và quản trị kẻ đã hà hiếp mình.
3A i ka la e hoomaha mai ai o Iehova ia oe, Mai kou pilikia, a me kou poino, A mai ka hana kaumaha i kauia maluna ou,
3Đến ngày mà Đức Giê-hô-va sẽ cho ngươi yên nghỉ, khỏi cơn buồn bực bối rối, và sự phục dịch nặng nề mà người ta đã bắt ép ngươi,
4Alaila oe e haku ai i keia mele no ke alii o Babulona, I ka i ana iho, Nani ka pau ana o ka mea nana i hookaumaha, Ka pau ana hoi o ka mea auhau i ke gula!
4thì ngươi sẽ dùng lời thí dụ nầy nói về vua Ba-by-lôn rằng: Sao kẻ bạo ngược đã tiệt đi, thành ức hiếp đã dứt đi!
5Ua uhaki o Iehova i ke kookoo o ka poo hewa, I ke kookoo alii hoi o ka poe hookaumaha.
5Đức Giê-hô-va đã bẻ gậy của người ác, và trượng của kẻ cai trị!
6O ka mea i hahau i na kanaka me ka huhu, He hahau ana me ka hoomaha ole; Hahi no oia maluna o ko na aina me ka ukiuki, He hoomaau hooki ole.
6Aáy là kẻ đã nhân giận đánh các dân tộc không thôi, dùng sự thạnh nộ cai trị các nước, và dùng sự bắt bớ chẳng ai ngăn lại.
7A ua malu ka honua a pau, na maha no; Hookani olioli lakou.
7Nay cả đất được yên nghỉ bình tĩnh, trổi giọng hát mừng!
8Hoaikola no hoi na laau kaa maluna ou, A me na kedera o Lebanona, i ae la, Mai kou wa i moe ai ilalo, Aohe mea e pii mai e kua ia makou.
8Dầu đến cây tùng cây bách ở Li-ban cũng nhân cớ ngươi mà vui mừng, và nói rằng: Từ khi ngươi ngã xuống rồi, không ai trèo lên để đốn ta nữa.
9Ua pihoihoi ka po malalo ia oe, E halawai me oe i kou hiki ana aku. Nou no ia i hoea mai ai i na mea lapu, I na mea mana hoi a pau o ka honua: Hooku ae la hoi ia iluna, i na'lii a pau o na aina, mai ko lakou nohoalii mai.
9Nơi âm phủ sâu thăm thẳm đã rúng động vì cớ ngươi đặng rước ngươi đến. Nó đã vì ngươi đánh thức các âm hồn, tức là những kẻ cả trên đất; nó đã làm cho vua các nước đứng dậy khỏi ngai mình.
10A olelo mai no lakou a pau ia oe, i ka i ana, Ua lilo anei oe i nawaliwali, e like me makou? Ua hoohalikeia anei oe me makou?
10Hết thảy chúng nó sẽ cất tiếng nói cùng ngươi rằng: Kìa ngươi cũng yếu đuối như chúng ta ư! Kìa ngươi cũng trở giống như chúng ta ư!
11Ua hoopohoia kou hanohano ilalo i ka po, A me ke kani ana o kou mau lira; O kahi moe malalo ou he ilo ia, A uhi mai no hoi ka ilo ia oe,
11Sự sang trọng với tiếng đàn cầm của ngươi đều xuống nơi âm phủ. Một lớp dòi làm nệm cho ngươi, sâu bọ thì làm mền!
12Auwe kou haule ana mai ka lani mai, E ka Hokuloa, ke keiki a ke kakahiaka! Ua kuaia oe ilalo i ka honua, O oe, ka mea i hooauhee i ko na aina.
12Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào!
13Aka, ua olelo no oe iloko o kou naau, E pii aku no wau i ka lani, E hookiekie no wau i ko'u nohoalii, Maluna o na hoku o ke Akua; E noho no wau ma ka mauna o ka halawai ana, Ma na aina loihi aku o ke kukulu akau.
13Ngươi vẫn bụng bảo dạ rằng: Ta sẽ lên trời, sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc.
14E pii aku no wau maluna o kahi kiekie o na ao, E like ana au me ka Mea kiekie loa.
14Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Đấng Rất Cao.
15Ua hoohaahaaia ka oe, ilalo o ka po, A i kahi hohonu hoi o ka lun!
15Nhưng ngươi phải xuống nơi âm phủ, sa vào nơi vực thẳm!
16O ka poe ike aku ia oe, e haka pono aku no lakou ia oe, E makaikai aku no ia oe, a e olelo iho, O keia anei ke kanaka nana i hoonaueue ka honua? A hooluliluli hoi na aupuni?
16Những kẻ thấy ngươi sẽ ngó chăm ngươi; và nhìn ngươi cách ý tứ, mà rằng: Có phải người nầy là kẻ đã làm rung rinh đất, day động các nước,
17Nana i hoolilo ka honua nei, i waonahele, A anai hoi i kona poe kulanakauhale? Ka mea i kuu ole i kona mea pio, e hoi hou i ko lakou wahi?
17làm cho thế gian thành đồng vắng, lật đổ các thành, và chẳng hề buông tha kẻ bị tù về nhà mình đó chăng?
18O na'lii a pau o na aina, maloko o ka nani lakou a pau e moe nei, O kela mea keia mea ma kona wahi iho.
18Hết thảy vua các nước đều ngủ nơi lăng tẩm mình cách vinh hiển.
19Ua hooleiia'ku ka oe mawaho o kou lua, Me he oha la i hoopailuaia, Me he aahu la o ka poe i pepehiia, Ka poe hoi i houia i ka pahikaua, Me he kupapau la i hahiia.
19Nhưng ngươi thì bị ném xa khỏi mồ mả, như nhánh cây thúi, như áo người bị giết, bị gươm đâm, bị xô xuống trong những đá nơi hố, khác nào thây chết bị giày đạp dưới chân!
20Aole oe e huipuia me lakou ma ke kanu ana, No ka mea, ua hooki loa oe i kou aina iho, Ua luku no oe i kou poe kanaka; Aole e hea hou ia ka hanauna o ka poe hewa a i ke ao pau ole,
20Ngươi sẽ không được hội hiệp cùng các vua trong lăng; vì ngươi đã diệt nước mình và giết dân mình! Dòng dõi kẻ hung ác sẽ không được xưng đến danh nó nữa.
21E hoomakaukau oukou i ka make no kana mau keiki, No ka hewa o na makua o lakou; I ole lakou e ku mai, a komo i ka aina, I hoopiha ole hoi lakou i ka aina i na kulanakauhale.
21Hãy sắm sẵn sự chém giết cho con cháu vì tội ác của tổ phụ; hầu cho họ không dấy lên nữa đặng được đất làm cơ nghiệp, lập thành ấp khắp thế gian!
22Na'u no e ala'e iluna e ku e ia lakou, Wahi a Iehova o na kaua; E hooki loa no wau i ka inoa o Babulona, A me ke koena, a me na keiki, a me na mamo, Wahi a Iehova.
22Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ta sẽ dấy lên nghịch cùng chúng nó. Ta sẽ làm tiêu diệt tên của Ba-by-lôn và dân sót lại, cả đến con và cháu nữa, Đức Giê-hô-va phán vậy.
23E hooili aku au ia wahi no ke kipoda, A e lilo hoi ia i kiowai; A e kahili aku au ia me ke kahili o ka make, Wahi a Iehova o na kaua.
23Ta sẽ làm cho đất nó thuộc về con nhím, biến ra ao nước; và ta sẽ dùng chổi hủy diệt mà quét nó, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
24Ua hoohiki mai o Iehova o na kaua, i mai la, Me ka'u i manao ai, pela io no ia: O ka'u i noonoo ai, oia ke kupaa.
24Đức Giê-hô-va vạn quân đã thề rằng: Chắc thật, sự ta đã định sẽ xảy đến, điều ta đã toan sẽ đứng vững.
25E lukuia auanei ko Asuria ma kuu aina, E hahi no wau ia ia maluna o ko'u kuahiwi; E laweia kana auamo mai o lakou aku, E haule hoi kona mea kaumaha mai luna mai o ko lakou poohiwi.
25Ta sẽ đánh phá người A-si-ri trong đất ta; sẽ giày đạp nó trên núi ta. Aùch nó sẽ cổi khỏi chúng nó; gánh nó sẽ cất khỏi vai chúng nó.
26Oia ka manao i manaoia'i no ka honua a pau; Oia ka lima i oia mai maluna ona lahuikanaka a pau.
26Đó là ý chỉ đã định nghịch cùng cả đất; đó là tay đã giá trên hết thảy các nước.
27No ka mea, ua paa ka manao o Iehova o na kaua, Owai la hoi ka mea hiki ke hoole? Ua oia mai kona lima, Owai la ka mea e hoihoi aku ia?
27Vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã toan định, thì ai bãi đi được? Tay Ngài đã giang ra, thì ai day lại được?
28I ka makahiki i make ai o ke alii, o Ahaza, keia wanana.
28Nhằm năm vua A-cha băng, gánh nặng nầy đã được rao ra:
29Mai olioli oe, e Pelisetia a pau, No ka hakiia o ka laau i hahau ia oe; No ka mea, mai ke aa o ka nahesa e laha mai ai ka moo pepeiaohao, A o kana hua hoi, he moo lele.
29Hỡi cả đất Phi-li-tin, chớ vui mừng bởi cớ roi đánh ngươi đã gãy; vì từ giống rắn sẽ sanh ra thuồng luồng, thuồng luồng sẽ sanh ra rắn lửa bay.
30E ai no ka poe hune loa, A e moe no ilalo ka poe ehaeha me ka maluhia; Aka, e hooki loa au i kou aa i ka wi, A e luku aku oia i kou poe i koe.
30Bấy giờ con cả của kẻ nghèo sẽ tìm được đồ ăn, kẻ túng sẽ nằm yên ổn; nhưng ta sẽ khiến dòng dõi ngươi chết đói, và kẻ thuộc về ngươi còn sót lại sẽ bị giết.
31E aoa, e ka pukapa, e uwe aku, e ke kulanakauhale, Ua maule oe, e Pilisetia a pau. No ka mea, ke punohu mai nei ka uwahi mai ka akau mai, Aohe mea helelei o kona poe kaua.
31Hỡi cửa, hãy than khóc! Hỡi thành, hãy kêu la! Hỡi cả đất Phi-li-tin, hết thảy hãy đều tan chảy! Vì có luồng khói từ phương bắc đến, chẳng ai lìa khỏi hàng ngũ mình.
32Pehea la e olelo aku ai i na elele o ka aina? Ua hookumu o Iehova ia Ziona, E loaa auanei ka puuhonua no kona poe kanaka poino.
32Lấy chi trả lời cho sứ giả của nước nầy? Trả lời rằng: Đức Giê-hô-va đã lập Si-ôn, và kẻ sầu khổ trong dân Ngài sẽ được ẩn náu trong nó.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.