Isaia 27
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1I KELA la, me kona pahikaua kaumaha, a nui, a ikaika, E hoopai mai ai o Iehova i leviatana, i ka nahesa lele hoi, I leviatana, i nahesa kekee hoi, A e pepehi no oia i ka moo nui maloko o ke kai.
1Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ dùng gươm cứng, lớn, và mạnh mà phạt lê-vi-a-than, là con rắn lẹ làng, phạt lê-vi-a-than là con rắn cong queo; và Ngài sẽ giết con vật lớn dưới biển.
2I kela la, e hookani oukou no ka pawaina.
2Trong ngày đó, các ngươi khá hát bài nói về vườn nho sanh ra rượu nho!
3Owau, o Iehova, ke malama aku nei au ia, E hoomau aku au ia ia i ka wai i na manawa a pau. O hoeha mai kekahi ia ia i ka po, a i ke ao paha, E kiai aku no wau ia ia.
3Aáy chính ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng giữ nó, sẽ chốc chốc tưới nó, và giữ nó đêm ngày, kẻo người ta phá hại chăng.
4Aohe huhu iloko o'u, Owai ka mea nana e hoonoho i ke kakalaioa, a me ka puakala, E ku e mai ia'u ma ke kaua ana? E hele ku e no wau ia lakou, E puhi no wau ia lakou pu.
4Ta chẳng căm giận. Mặc ai đem chà chuôm gai gốc mà chống cự cùng ta! Ta sẽ đi đánh chúng nó, đốt chung làm một.
5Ina e pili mai oia i ko'u ikaika, A hana mai ia'u ma ka mea e malu ai, E malu io no oia ia'u.
5Chẳng gì bằng nhờ sức ta, làm hòa với ta, phải, hãy làm hòa với ta!
6E hookumu no oia i ka poe i laha mai, mai o Iakoba mai, E hoomaka no ka Iseraela, a e mohala hoi, A e hoopiha no ia i keia ao i ka hua.
6Sau nầy, Gia-cốp đâm rễ, Y-sơ-ra-ên kết nụ và nở hoa, chắc sẽ ra trái đầy trên mặt đất.
7Ua hahau mai anei oia ia ia, E like me kona hahau ana mai i ka poe i hahau aku ia ia? Ua pepehiia anei oia, e like me ka pepehiia o ka poe i pepehi aku ia ia?
7Đức Chúa Trời đánh nó há như đánh kẻ đã đánh nó sao? Nó bị giết há như những kẻ giết nó đã bị giết sao?
8I kou kipaku ana, e hahau liilii ana no oe ia ia; Ke hoopuehu nae no oia ia ia me ka makani ikaika, i ka la o ka makani mai ka hikina mai.
8Aáy là Ngài đã tranh nhau với nó cách chừng đỗi, mà dời nó đi, trong một ngày có gió đông, nó bị đùa đi bởi gió bão của Ngài.
9Penei hoi e kalaia'i ka hewa o Iakoba, A he hua no keia a pau e kala'i i ka hala; I kona hoolilo ana i na pohaku a pau o ke kuahu, E like me na pohaku puna i ulupaia, I ala ole mai hoi na kii o Aseterota, a me na'kua kii.
9Vậy, nầy là cớ vì sao mà tội Gia-cốp sẽ được tha, và nầy là quả của sự trừ bỏ tội nó đi: nó sẽ làm cho hết thảy đá của bàn thờ ra như đá vôi bể nát; các hình tượng và các trụ mặt trời sẽ không dựng lên nữa.
10Aka, e neoneo auanei ke kulanakauhale i paa i ka pakaua, A lilo hoi i hale haaleleia, a waihoia no hoi e like me ka waonahele. Malaila no e ai ai ka bipi, Malaila no hoi ia e moe ai, A e ai no ia i kolaila muo hou.
10Vì thành bền vững đã trở nên tiêu điều, nhà ở sẽ bị bỏ và để hoang, dường như đồng vắng. Bò tơ sẽ đến ăn cỏ tại đó, nằm và nhá những nhánh cây.
11A maloo kona mau lala, alaila, e uhaiia no lakou; E hele mai no na wahine, a e puhi ia mau mea i ke ahi. No ka mea, he lahuikanaka noonoo ole ia; Nolaila, o ka mea nana ia i hana, aole ia e aloha mai ia ia, A o ka mea nana ia i kukulu, aole ia e hana lokomaikai mai ia ia.
11Khi nhánh khô và bị bẻ, đàn bà đến lấy mà nhen lửa. Vì dân nầy không có trí khôn, nên Đấng đã làm nên nó chẳng thương xót đến, Đấng tạo nên nó chẳng ban ơn cho.
12A hiki aku ia la, E uhai o Iehova, mai ka wai o kahawai mai, A hiki aku i ka muliwai o Aigupita, A e hoiliili pakahi ia oukou, E na mamo a Iseraela.
12Xảy ra trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ lung lay từ lòng Sông cái cho đến khe Ê-díp-tô; hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, các ngươi đều sẽ bị lượm từng người một!
13A hiki aku ia la, E puhiia ka pu nui, A e hele mai ka poe aneane make ma ka aina o Asuria, A o ka poe i puenuia ma ka aina o Aigupita, A e hoomana lakou ia Iehova, Ma ka mauna hoano ma Ierusalema.
13Trong ngày đó, kèn lớn sẽ thổi lên. Bấy giờ những kẻ bị thất lạc trong xứ A-si-ri, và những kẻ bị đày trong đất Ê-díp-tô, sẽ đến thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va, trên hòn núi thánh, tại Giê-ru-sa-lem.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.