1 Царів 18
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1По довгому часї прийшло слово Господнє до Ілиї, таке: Йди, покажись Ахабові, а дам дощ на землю.
1Cách lâu ngày, trong năm thứ ba có lời của Đức Giê-hô-va phán dạy Ê-li rằng: Hãy đi, ra mắt A-háp: ta sẽ khiến mưa sa xuống đất.
2І пійшов Ілия, щоб показатись Ахабові. Панувала ж велика голоднеча в Самариї.
2Vậy, Ê-li đi ra mắt A-háp. Vả, tại Sa-ma-ri có cơn đói kém quá đỗi.
3І покликав Ахаб Абдію, начальника дворецького. Абдій ж був вельми богобоязливий.
3A-háp sai gọi Aùp-đia, là quan gia tể mình. (Aùp-đia rất kính sợ Đức Giê-hô-va.
4І як Езабеля викореняла пророків Господнїх, то Абдій взяв сто пророків і ховав їх по півсотнї чоловіка по печерах та й обмисляв хлїбом і водою.
4Xảy ra khi Giê-sa-bên diệt hết các đấng tiên tri của Đức Giê-hô-va, thì Aùp-đia có đem một trăm đấng tiên tri đi giấu trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi họ.)
5І сказав Ахаб Абдієві: Пійди по царству по всїх криничинах і по всїх байрачних бурчаках, а може знайдеш де траву, щоб рятувати конї й мули, та щоб не повиздихала вся скотина.
5A-háp nói với Aùp-đia rằng: Hãy đi khắp xứ, xem hết thảy các suối và khe, có lẽ chúng ta sẽ tìm được cỏ, và cứu cho ngựa và la còn sống, không phải diệt hết các súc vật ta chăng?
6І подїлили вони між себе землю, щоб її скрізь обійти. Ахаб пійшов в один бік, а Абдій двинув у другий бік.
6Vậy, hai người chia xứ đặng đi tuần. A-háp đi một mình con đường này, và Aùp-đia đi một mình con đường kia.
7Як же Абдій ійшов дорогою, зустрів його несподївано Ілия. Впізнавши його, припав Абдій лицем до землї й промовив: Чи справдї се ти, добродїю мій, Ілиє?
7Aùp-đia đang đi đường, thì gặp Ê-li ra đón mình. Aùp-đia nhìn biết người, sấp mình xuống đất, mà thưa rằng: Hỡi Ê-li chúa tôi! có phải ông chăng?
8Той відказує: Се я. Йди та скажи твойму панові: Ілия тут!
8Người đáp: ã phải ta. Ngươi hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây.
9Він же каже: Чим провинив я тобі, що хочеш мене, раба твого, видати Ахабові, щоб убив мене?
9Aùp-đia tiếp rằng: Tôi có phạm tội gì, mà ông muốn phó kẻ tôi tớ ông vào tay A-háp, hầu cho người giết tôi đi?
10Так певно, як живе Господь, Бог твій, нема нї народу, нї царства, куди б не посилав мій пан, тебе шукати. Як же йому казали: нема тут його, він брав клятву з царства й люду, що тебе не зустріли.
10Tôi chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của ông mà thề, chẳng dân nào nước nào mà chủ tôi không sai đến tìm ông và khi người ta đáp rằng: Ê-li không có đây, thì người bắt nước bắt dân ấy thề rằng không ai gặp ông.
11А тепер ти кажеш: Ійди, скажи панові твойму: Ілия тутеньки!
11Mà bây giờ, ông lại nói với tôi tớ rằng: Hãy đi nói với chủ ngươi: Ê-li ở đây.
12Коли ж я пійду від тебе, то дух Господень занесе тебе, хто знає, куди; а як я пійду звістити Ахабові, а він тебе не знайде, так він убє мене; раб же твій з молодощів боявся Господа.
12Rồi khi tôi lìa khỏi ông, sẽ có thần của Đức Giê-hô-va đem ông đi nơi nào tôi chẳng biết; vậy, khi tôi đi thuật lại cùng A-háp, mà người không thấy ông, ắt sẽ giết tôi đi. Vả, kẻ tôi tớ ông kính sợ Đức Giê-hô-va từ khi thơ ấu.
13Хиба мойму добродїєві не переказано, що я вчинив, як Езабель вбивала пророки Господнї, як я сто чоловіка з пророків Господнїх скривав по півсотнї чоловіка в печерах і обмисляв їх хлїбом та водою?
13Khi Giê-sa-bên giết các tiên tri của Đức Giê-hô-va, thì tôi có giấu một trăm tiên tri của Đức Giê-hô-va trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi họ; người ta há không có thuật điều đó cho chúa tôi hay sao?
14А ти тепереньки кажеш: Ійди, скажи панові твойму: Ілия тут! він убє мене.
14Và bây giờ, ông biểu tôi: Hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây. Người ắt sẽ giết tôi đi.
15Ілия ж рече: Так певно, як жив Господь Саваот, що я на службі в його стою: ще сьогоднї покажусь йому.
15Ê-li đáp rằng: Ta chỉ sanh mạng Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đấng ta phục sự, mà thề rằng: Chính ngày nay ta sẽ ra mắt A-háp.
16І пійшов Абдій, зустрічати Ахаба, й сповістів його про се. І пійшов Ахаб зустріч Ілиєві.
16Vậy, Aùp-đia đi đón A-háp, và thuật lại cho người. A-háp bèn đi đón Ê-li.
17Побачивши ж Ахаб Ілию, промовив до його: То се ти, що трівожиш Ізраїля?
17Vừa khi A-háp thấy Ê-li, thì nói rằng: Có phải ngươi, là kẻ làm rối loạn Y-sơ-ra-ên chăng?
18Він же відказує: Не я трівожу Ізраїля, а ти й твоя родина, що знехтували заповідї Господнї й ходите слїдом за Баалами.
18Ê-li đáp rằng: Chẳng phải tôi làm rối loạn Y-sơ-ra-ên đâu; bèn là vua và nhà cha vua, bởi vì vua đã bỏ điều răn của Đức Giê-hô-va, và đã tin theo thần Ba-anh.
19Тепер же посилай та поскликай до мене всього Ізраїляа на Кармель-гору та й тих чотириста й пятьдесять пророків Баалових із чотирма стами пророків дубровних, що годуються зі столу Езабелиного.
19Vậy bây giờ vua hãy sai người đi nhóm cả Y-sơ-ra-ên, với bốn trăm năm mươi tiên tri của Ba-anh, và bốn trăm tiên tri của Aùt-tạt-tê, ăn tại bàn Giê-sa-bên, khiến họ đến cùng tôi trên núi Cạt-mên.
20І послав Ахаб по всього Ізраїля та й поскликав пророки на Кармель-гору.
20Vậy, A-háp sai người đi nhóm cả dân Y-sơ-ra-ên và những tiên tri đến núi Cạt-mên.
21І наближивсь Ілия до всього народу й промовив: Доки ще кульгати мете на оба боки? Коли Господь є Богом, так ходїте слїдом за ним; коли ж се Баал, так слїдом за ним ходїте. І не відказав йому люд нїчого.
21Đoạn Ê-li đến trước mặt dân sự mà nói rằng: Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn. Song dân sự không đáp một lời.
22І каже Ілия до люду: Я зіставсь один пророк Господень, а пророків Баалових чотириста й пятьдесять чоловіка.
22Bấy giờ, Ê-li nói với dân sự rằng: Trong vòng những tiên tri của Đức Giê-hô-va, chỉ một mình ta còn lại; còn các tiên tri Ba-anh số là bốn trăm năm mươi người.
23Дайте ж нам два бики, і нехай виберуть вони собі одного бика, і розітнуть його на шматки й покладуть на дрова, але не підпалюють, я ж оправлю другого телця й положу на дрова, однак не підпалю;
23Vậy, hãy cho chúng ta hai con bò đực; họ phải chọn một con cho mình, sả ra từ miếng, sắp để trên củi, nhưng chớ châm lửa. Còn ta, ta sẽ làm con bò kia, để nó trên củi, nhưng không châm lửa.
24Тодї взивайте ви ймя бога вашого, я ж призову ймя Господа, Бога мого. Которий Бог відповість поломєм, той буде Богом. І відказав увесь люд і промовив: Добре!
24Đoạn, hãy kêu cầu danh của thần các ngươi, còn ta, ta sẽ kêu cầu danh của Đức Giê-hô-va. Thần đáp lời bằng lửa, ấy quả là Đức Chúa Trời. Cả dân sự đều đáp rằng: Lời nói rất phải.
25Промовив тодї Ілия до пророків Баалових: Вибірайте одного бика та й оправте як слїд, бо вас більше, й взивайте ймя бога вашого, огню ж не підкладайте.
25Ê-li bèn nói với những tiên tri Ba-anh rằng: hãy chọn một con bò đực, làm nó trước đi, vì các ngươi đông; rồi hãy cầu khẩn danh của thần các ngươi; nhưng chớ châm lửa.
26І взяли вони телця, що їм дано, й оправили, й кликали ймя Баалове з ранку та й до полудня, промовляючи: Баале, почуй нас! Та не було нї голосу, нї відповідї. І скакали вони круг жертівника, що построїли.
26Vậy, chúng bắt con bò mà người ta đã ban cho mà làm nó; rồi từ sớm mai đến trưa, chúng cầu khẩn danh của Ba-anh, và rằng: Hỡi Ba-anh! xin đáp lời chúng tôi. Nhưng chẳng có tiếng gì, cũng chẳng ai đáp lời; chúng đều nhảy chung quanh bàn thờ mình đã dựng lên.
27Як було ж о півднї, почав Ілия насьміватись із них і каже: Кличте голоснїщ, бо він бог; може він задумався, або чим занятий, або в дорозї, або може й спить, то прокинеться.
27Khi đã đến trưa, Ê-li nhạo chúng mà rằng: Khá la lớn lên đi, vì người là thần; hoặc người đang suy gẫm, hoặc ở đâu xa, hoặc đang đi đường; hay là có lẽ người ngủ, và sẽ thức dậy.
28І кликали вони ще голоснїйше, та робили своїм звичаєм нарізки ножиками та списиками, що аж кров текла по них.
28Vậy, chúng kêu lớn tiếng; và theo thói lệ họ, lấy gươm giáo gạch vào mình cho đến chừng máu chảy ra.
29Минуло й полуднє, а вони все ще біснувались, (та й біснувались) аж до тієї години, коли час було приносити вечірню жертву; однакже не було нї голосу, нї відповідї, нї послуху.
29Khi quá trưa rồi, họ cứ nói tiên tri như vậy cho đến giờ dâng của lễ chay ban chiều; nhưng vẫn không có tiếng gì, chẳng ai đáp lời, cũng không cố ý đến.
30І сказав Ілия до всього народу: Приступіте до мене! І приступив до його ввесь люд. І поставив він знов зруйнованого жертівника Господнього,
30Bấy giờ, Ê-li nói với cả dân sự rằng: Hãy đến gần ta. Dân sự bèn đến gần người. Đoạn, Ê-li sửa lại cái bàn thờ của Đức Giê-hô-va bị phá hủy.
31І взяв Ілия дванайцять каменів по лїчбі синів Якова, що Господь сказав був йому: Ізраїль буде ймя твоє!
31Người lấy mười hai hòn đá, theo số mười hai chi phái của các con trai Gia-cốp, là người mà lời của Đức Giê-hô-va đã phán cho rằng: Y-sơ-ra-ên sẽ là tên ngươi.
32І построїв із того каміння жертівника в імя Господнє, та й обвів жертівника округи ровом завбільшки зо дві борозди зерна;
32Người dùng mười hai hòn đá ấy mà dựng lên một cái bàn thờ nhân danh Đức Giê-hô-va; chung quanh bàn thờ, người đào một cái mương đựng được hai đấu hột giống;
33І уложив дрова, розтяв бика та й положив на дрова;
33rồi chất củi, sả bò tơ ra từ miếng, và sắp nó lên trên củi. Kế người nói:
34І повелїв: Наберіте чотири цебри води та й вилийте на всепаленнє й на дрова. (І зробили так.) І повелїв: Зробіте се вдруге. І зробили вдруге. Тодї повелїв: Зробіть і втретє. І зробили втретє.
34Hãy múc đầy bốn bình nước, và đem đổ trên của lễ thiêu và củi. Người lại nói: Hãy làm lần thứ nhì; thì người ta làm lần thứ nhì. Người tiếp: Hãy làm lần thứ ba, và họ làm lần thứ ba,
35І текла вода навкруги жертівника, так що в каналї було повно води.
35cho đến đỗi nước chảy chung quanh bàn thờ, và đầy cái mương nữa.
36А коли вже був час приносити вечірню жертву, приступив Ілия й промовив: Господи, Боже Авраамів, Ізааків і Ізрайлїв! Покажи сьогоднї, що ти один Бог ув Ізраїлї, а я слуга твій, й що я се все вчинив по твойму велїнню.
36Đến giờ dâng của lễ chay ban chiều, tiên tri Ê-li đến gần và nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, của Y-sác, và của Y-sơ-ra-ên, ngày nay xin hãy tỏ cho người ta biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên, rằng tôi là kẻ tôi tớ Ngài, và tôi vâng lời Ngài mà làm mọi sự này.
37Почуй мене, Господи, почуй мене, щоб сей люд зрозумів, що ти, Господи, справдешнїй Бог, і що ти навернеш серця їх.
37Đức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho dân sự này nhìn biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở lại.
38І спав огонь Господень та й пожер всепаленнє, дрова, каміння й насипану землю, ба й воду вилизав, що була в рові.
38Lửa của Đức Giê-hô-va bèn giáng xuống, thiêu đốt của lễ thiêu, củi, đá, bụi, và rút nước trong mương.
39Як побачив се нарід, то й припав лицем до землї, та й промовив: Господь є Богом, Господь є Богом!
39Thấy vậy, cả dân sự sấp mình xuống đất, và la rằng: Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!
40Ілия ж повелїв їм: Хапайте пророки Баалові! не дайте нї одному з них утекти! І похапали їх, і повїв їх Ілия до потока Кисона та й повбивав там.
40Ê-li nói với chúng rằng: Hãy bắt các tiên tri của Ba-anh, chớ cho thoát một người nào. Chúng bèn bắt họ, Ê-li đem họ xuống dưới khe Ki-sôn, và giết họ tại đó.
41І сказав Ілия Ахабові: Йди, їж і пий, бо чути дощовий шелест.
41Đoạn, Ê-li nói cùng A-háp rằng: Hãy đi lên, ăn và uống, vì tôi đã nghe tiếng mưa lớn.
42І пійшов Ахаб їсти й пити, Ілия ж вийшов на верх Кармеля, припав до землї й похилив лице своє аж між колїна свої.
42Vậy, A-háp trở lên đặng ăn uống. Nhưng Ê-li leo lên chót núi Cạt-mên, cúi xuống đất và úp mặt mình giữa hai đầu gối.
43І сказав слузї свойму: Йди, подивись проти моря. Той пійшов, подививсь та й каже: Нема нїчого. Каже ж йди знов. І ходив той сїм разів.
43Đoạn, người nói với kẻ tôi tớ mình rằng: Xin hãy đi lên, ngó về phía biển. Kẻ tôi tớ đi lên xem, nhưng nói rằng: Không có chi hết. Ê-li lại nói: Hãy trở lên bảy lần.
44За семим же разом каже: Встає саме з моря хмарка, завбільшки на чоловічу долоню. І сказав: Їйди ж, скажи Ахабові: Запрягай та їдь, щоб не захопив тебе дощ.
44Lần thứ bảy, kẻ tôi tớ đáp rằng: Tôi thấy ở phía biển lên một cụm mây nhỏ như lòng bàn tay, Ê-li bèn tiếp: Hãy đi nói với A-háp rằng: Hãy thắng xe và đi xuống, kẻo mưa cầm vua lại chăng.
45Тимчасом потемнїло небо від хмари й вітру та й линув страшенний ливень. Ахаб же сїв та й поїхав у Езреель.
45Trong một lúc, trời bị mây che đen, gió nổi dậy, và có cơn mưa rất lớn. A-háp bèn lên xe mình, đi đến Gít-rê-ên.
46На Ілию ж сталася рука Господня й він, оперезавши свої чересла, біг поперед Ахабом до Езрееля.
46Tay Đức Giê-hô-va giáng trên Ê-li; người thắt lưng, chạy trước A-háp cho đến khi tới Gít-rê-ên.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.