I. Na Lii 18
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1EIA kekahi, a i na la he nui, hiki mai la ka olelo a ke Akua ia Elia i ke kolu o ka makahiki, i ka i ana mai, E hele, a e hoike ia oe iho ia Ahaba; a e hoohaule au i ka ua maluna o ka ill o ka honua.
1Cách lâu ngày, trong năm thứ ba có lời của Đức Giê-hô-va phán dạy Ê-li rằng: Hãy đi, ra mắt A-háp: ta sẽ khiến mưa sa xuống đất.
2Hele ae la hoi o Elia e hoike ia ia iho ia Ahaba: a he wi nui ma Samaria.
2Vậy, Ê-li đi ra mắt A-háp. Vả, tại Sa-ma-ri có cơn đói kém quá đỗi.
3Kahea ae la o Ahaba ia Obadia, ka luna o kona hale. (He weliweli nui ko Obadia ia Iehova:
3A-háp sai gọi Aùp-đia, là quan gia tể mình. (Aùp-đia rất kính sợ Đức Giê-hô-va.
4A o keia hoi, i ka pepehi ana o Iezebela i na kaula o Iehova, lawe ae la o Obadia i na kaula hookahi haneri, a huna papakanalima ae ia lakou iloko o ke ana, a hanai ae la ia lakou me ka berena a me ka wai.)
4Xảy ra khi Giê-sa-bên diệt hết các đấng tiên tri của Đức Giê-hô-va, thì Aùp-đia có đem một trăm đấng tiên tri đi giấu trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi họ.)
5I mai la hoi o Ahaba ia Obadia, E hele oe ma ka aina i na kumu wai a pau, a me na kahawai a pau; e loaa paha uanei ia kaua ka mauu e malama ai i na lio me na hoki i ola, o hoonele ia kaua iho i na holoholona a pau.
5A-háp nói với Aùp-đia rằng: Hãy đi khắp xứ, xem hết thảy các suối và khe, có lẽ chúng ta sẽ tìm được cỏ, và cứu cho ngựa và la còn sống, không phải diệt hết các súc vật ta chăng?
6Mahele ae la hoi laua i ka aina e pau ia i ka heleia. Hele ae la o Ahaba ma kekahi aoao, oia iho no; a hele ae la hoi o Obadia ma kekahi aoao, oia iho no.
6Vậy, hai người chia xứ đặng đi tuần. A-háp đi một mình con đường này, và Aùp-đia đi một mình con đường kia.
7Oiai o Obadia ma ke alanui, aia hoi, halawai mai la me ia o Elia: a ike hoi oia ia ia, moe iho la oia ilalo ke alo, i aku la, O oe no anei keia haku o'u, o Elia?
7Aùp-đia đang đi đường, thì gặp Ê-li ra đón mình. Aùp-đia nhìn biết người, sấp mình xuống đất, mà thưa rằng: Hỡi Ê-li chúa tôi! có phải ông chăng?
8I mai la oia ia ia, Owau no: e hele oe e hai aku i ko'u haku, Aia hoi o Elia.
8Người đáp: ã phải ta. Ngươi hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây.
9I aku la hoi kela, O ke aha la ko'u hewa e haawi ai oe i kau kauwa i ka lima o Ahaba e pepehi mai ia'u?
9Aùp-đia tiếp rằng: Tôi có phạm tội gì, mà ông muốn phó kẻ tôi tớ ông vào tay A-háp, hầu cho người giết tôi đi?
10Ma ke ola ana o Iehova kou Akua, aohe lahuikanaka, aohe aupuni, kahi i hoouna ole aku ai kuu haku e imi ia oe ilaila: a i ka lakou olelo ana, Aole ia, lawe oia i ka hoohiki ana i ke Akua, o ia aupuni a me ia lahuikanaka, i ka loaa ole ana ou ia lakou.
10Tôi chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của ông mà thề, chẳng dân nào nước nào mà chủ tôi không sai đến tìm ông và khi người ta đáp rằng: Ê-li không có đây, thì người bắt nước bắt dân ấy thề rằng không ai gặp ông.
11Ano hoi, ke olelo nei oe, E hele e hai aku i ko'u haku, Aia hoi o Elia!
11Mà bây giờ, ông lại nói với tôi tớ rằng: Hãy đi nói với chủ ngươi: Ê-li ở đây.
12Eia hoi auanei keia, a hala au mai ou aku nei, e lawe aku ka Uhane o Iehova ia oe ma kahi e ike ole ai au; a hele au e hai aku ia Ahaba, aole hoi e loaa oe ia ia, e pepehi mai auanei oia ia'u; aka, ke weliweli nei au kau kauwa ia Iehova mai ko'u wa kamalii mai.
12Rồi khi tôi lìa khỏi ông, sẽ có thần của Đức Giê-hô-va đem ông đi nơi nào tôi chẳng biết; vậy, khi tôi đi thuật lại cùng A-háp, mà người không thấy ông, ắt sẽ giết tôi đi. Vả, kẻ tôi tớ ông kính sợ Đức Giê-hô-va từ khi thơ ấu.
13Aole anei i haiia i ko'u haku ka mea a'u i hana aku ai i ka wa i pepehi ai o Iezebela i na kaula o Iehova, o ko'u huna ana'e i hookahi haneri kanaka o ko Iehova poe kaula, papakanalima ma ke ana, a hanai aku ia lakou me ka berena a me ka wai?
13Khi Giê-sa-bên giết các tiên tri của Đức Giê-hô-va, thì tôi có giấu một trăm tiên tri của Đức Giê-hô-va trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi họ; người ta há không có thuật điều đó cho chúa tôi hay sao?
14Ano hoi, ke olelo mai nei oe, E hele e hai aku i ko'u haku, Aia hoi o Elia! a e pepehi mai no oia ia'u.
14Và bây giờ, ông biểu tôi: Hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây. Người ắt sẽ giết tôi đi.
15I mai la hoi o Elia, Ma ke ola ana o Iehova o na kaua, imua ona e ku nei au, e hoike io aku no au ia'u iho ia ia i keia la.
15Ê-li đáp rằng: Ta chỉ sanh mạng Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đấng ta phục sự, mà thề rằng: Chính ngày nay ta sẽ ra mắt A-háp.
16Hele aku la hoi o Obadia e halawai me Ahaba, a hai aku la hoi ia ia; a hele mai la o Ahaba e halawai me Elia.
16Vậy, Aùp-đia đi đón A-háp, và thuật lại cho người. A-háp bèn đi đón Ê-li.
17Eia kekahi, i ka wa i ike ai o Ahaba ia Elia, i mai la o Ahaba ia ia, O oe no anei ka mea i hoopilikia i ka Iseraela?
17Vừa khi A-háp thấy Ê-li, thì nói rằng: Có phải ngươi, là kẻ làm rối loạn Y-sơ-ra-ên chăng?
18I aku la hoi oia, Aole na'u i hoopilikia i ka Iseraela, aka, nau, a na ka ohana a kou makuakane, i ko oukou haalele ana i na kauoha a Iehova, a ua hahai hoi oe mamuli o na Baala.
18Ê-li đáp rằng: Chẳng phải tôi làm rối loạn Y-sơ-ra-ên đâu; bèn là vua và nhà cha vua, bởi vì vua đã bỏ điều răn của Đức Giê-hô-va, và đã tin theo thần Ba-anh.
19Ano hoi e kii aku oe e hoakoakoa mai i ka Iseraela a pau io'u nei, ma ka mauna Karemela, a me na kaula o Baala eha haneri me kanalima, a me na kaula o na wahi e hoomana'i eha haneri, ka poe e ai ana ma ka papaaina a Iezebela.
19Vậy bây giờ vua hãy sai người đi nhóm cả Y-sơ-ra-ên, với bốn trăm năm mươi tiên tri của Ba-anh, và bốn trăm tiên tri của Aùt-tạt-tê, ăn tại bàn Giê-sa-bên, khiến họ đến cùng tôi trên núi Cạt-mên.
20Pela hoi, kii aku la o Ahaba i na mamo a pau a Iseraela, a hoakoakoa mai la i na kaula ma ka mauna Karemela,
20Vậy, A-háp sai người đi nhóm cả dân Y-sơ-ra-ên và những tiên tri đến núi Cạt-mên.
21Hele mai la hoi o Elia i ka poe kanaka a pau, i mai la hoi, Pehea la ka loihi o ko oukou kapekepeke ana iwaena o na manao elua! Ina o Iehova ke Akua, e hahai oukou mamuli ona; aka, ina o Baala, e hahai mamuli ona, Aole olelo aku na kanaka i kekahi olelo ia ia.
21Đoạn Ê-li đến trước mặt dân sự mà nói rằng: Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn. Song dân sự không đáp một lời.
22Alaila olelo mai la o Elia i ka poe kanaka, Owau nei, owau wale no ka i koe mai he kaula no Iehova; aka o na kaula o Baala, eha haneri kanaka lakou me kanalima.
22Bấy giờ, Ê-li nói với dân sự rằng: Trong vòng những tiên tri của Đức Giê-hô-va, chỉ một mình ta còn lại; còn các tiên tri Ba-anh số là bốn trăm năm mươi người.
23He pono no hoi e haawi mai lakou i na bipi elua, ia makou; a e koho ae lakou i kekahi bipi no lakou iho, a e okioki i mau apana, a e kau aku hoi maluna o ka wahie, aole hoi e hahao ae i ke ahi: a e hoomakaukau aku au i kekahi bipi, a e kau ae maluna o ka wahie, aole hoi e hahao ae i ke ahi:
23Vậy, hãy cho chúng ta hai con bò đực; họ phải chọn một con cho mình, sả ra từ miếng, sắp để trên củi, nhưng chớ châm lửa. Còn ta, ta sẽ làm con bò kia, để nó trên củi, nhưng không châm lửa.
24A e kahea oukou ma ka inoa o ko oukou mau akua, a e kahea wau i ka inoa o Iehova; a o ke Akua nana e haawi mai i ke ahi, oia ke Akua. Olelo aku la ka poe kanaka a pau, i aku la, He pono ka olelo.
24Đoạn, hãy kêu cầu danh của thần các ngươi, còn ta, ta sẽ kêu cầu danh của Đức Giê-hô-va. Thần đáp lời bằng lửa, ấy quả là Đức Chúa Trời. Cả dân sự đều đáp rằng: Lời nói rất phải.
25Olelo mai la hoi o Elia i na kaula o Baala, E koho oukou i kekahi bipi no oukou iho, a e hoomakaukau mua ae ia. no ka mea, he lehulehu oukou; a e kahea aku i ka inoa o ko oukou mau akua, aole hoi e hahao ae i ke ahi.
25Ê-li bèn nói với những tiên tri Ba-anh rằng: hãy chọn một con bò đực, làm nó trước đi, vì các ngươi đông; rồi hãy cầu khẩn danh của thần các ngươi; nhưng chớ châm lửa.
26Lawe ae la lakou i ka bipi i haawiia ia lakou, a hoomakaukau ae la hoi ia, a kahea aku la i ka inoa o Baala, mai kakahiaka a awakea, i ka i ana'ku, E Baala, e hoolohe mai ia makou. Aka, aohe leo; aole hoi mea i hoolohe mai. Lelele ae la lakou ma ke kuahu i hanaia'e.
26Vậy, chúng bắt con bò mà người ta đã ban cho mà làm nó; rồi từ sớm mai đến trưa, chúng cầu khẩn danh của Ba-anh, và rằng: Hỡi Ba-anh! xin đáp lời chúng tôi. Nhưng chẳng có tiếng gì, cũng chẳng ai đáp lời; chúng đều nhảy chung quanh bàn thờ mình đã dựng lên.
27Eia kekahi, a awakea ae la, hoomaewaewa ae la o Elia ia lakou, i ae la, E kahea me ka leo nui, no ka mea, he akua ia; e kukakuka ana paha ia, e hahai ana paha ia, e hele loihi ana paha, a e hiamoe ana paha ia, e pono hoi ke hoalaia'e.
27Khi đã đến trưa, Ê-li nhạo chúng mà rằng: Khá la lớn lên đi, vì người là thần; hoặc người đang suy gẫm, hoặc ở đâu xa, hoặc đang đi đường; hay là có lẽ người ngủ, và sẽ thức dậy.
28Kahea aku la lakou me ka leo nui, a kokoe iho la lakou ia lakou iho mamuli o ko lakou ano, me na pahi, a me na ihe, a hu mai ke koko maluna iho o lakou.
28Vậy, chúng kêu lớn tiếng; và theo thói lệ họ, lấy gươm giáo gạch vào mình cho đến chừng máu chảy ra.
29Eia hoi kekahi, i ka aui ana'e o ka la, a pule ae lakou a hiki i ka wa e kaumaha ai i ka mohai ahiahi, aohe leo, aole hoi mea hoolohe, aole hoi mea manao mai:
29Khi quá trưa rồi, họ cứ nói tiên tri như vậy cho đến giờ dâng của lễ chay ban chiều; nhưng vẫn không có tiếng gì, chẳng ai đáp lời, cũng không cố ý đến.
30Alaila, i mai la o Elia i ka poe kanaka a pau, E hookokoke mai io'u nei; Hookokoke ae la ka poe kanaka a pau io na la. Kukulu hou ae la oia i ke kuahu o Iehova i hiolo ilalo.
30Bấy giờ, Ê-li nói với cả dân sự rằng: Hãy đến gần ta. Dân sự bèn đến gần người. Đoạn, Ê-li sửa lại cái bàn thờ của Đức Giê-hô-va bị phá hủy.
31Lawe ae la hoi o Elia i na po haku he umikumamalua, mamuli o ka helu ana o na ohana a na keiki a Iakoba, a ka mea i hiki mai ka olelo a Iehova ia ia, o i ana, E kapaia auanei kou inoa o Iseraela;
31Người lấy mười hai hòn đá, theo số mười hai chi phái của các con trai Gia-cốp, là người mà lời của Đức Giê-hô-va đã phán cho rằng: Y-sơ-ra-ên sẽ là tên ngươi.
32A kukulu ae la oia ia mau pohaku i kuahu no ka inoa o Iehova, a hana iho la hoi i auwaha a puni ke kuahu, o kona nui e hiki ai ke komo na ana hua elua.
32Người dùng mười hai hòn đá ấy mà dựng lên một cái bàn thờ nhân danh Đức Giê-hô-va; chung quanh bàn thờ, người đào một cái mương đựng được hai đấu hột giống;
33Hooponopono ae la hoi oia i ka wahie, a okioki ae la i ka bipi i mau apana, a kau ae la maluna o ka wahie; i mai la hoi oia, E hoopiha i na barela eha me ka wai, a e ninini iho maluna iho o ka mohaikuni, a maluna iho hoi o ka wahie.
33rồi chất củi, sả bò tơ ra từ miếng, và sắp nó lên trên củi. Kế người nói:
34Olelo mai la hoi oia, I elua o ka oukou hana ana. Elua'e la no hoi ka lakou hana ana. I mai la hoi oia, I ekolu hoi o ka oukou hana ana, Ekolu ae la no hoi ka lakou hana ana.
34Hãy múc đầy bốn bình nước, và đem đổ trên của lễ thiêu và củi. Người lại nói: Hãy làm lần thứ nhì; thì người ta làm lần thứ nhì. Người tiếp: Hãy làm lần thứ ba, và họ làm lần thứ ba,
35Kahe ae la hoi ka wai a puni ke kuahu; a hoopiha iho la no hoi oia i ka auwaha i ka wai.
35cho đến đỗi nước chảy chung quanh bàn thờ, và đầy cái mương nữa.
36Eia hoi kekahi, i ka wa i kaumaha ai i ka mohai ahiahi, hookokoke ae la o Elia ke kaula, i aku la hoi, E Iehova ke Akua o Aberahama, a me Isaaka, a me Iseraela, i keia la e hoikeia'i o oe no ke Akua iloko o ka Iseraela, a owau nei kau kauwa, a no kau olelo i hana aku ai au i keia mau mea a pau.
36Đến giờ dâng của lễ chay ban chiều, tiên tri Ê-li đến gần và nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, của Y-sác, và của Y-sơ-ra-ên, ngày nay xin hãy tỏ cho người ta biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên, rằng tôi là kẻ tôi tớ Ngài, và tôi vâng lời Ngài mà làm mọi sự này.
37E hoolohe mai ia'u, e Iehova, e hoolohe mai ia'u, i ike keia lahuikanaka o oe no Iehova ke Akua; a ua hoohuli hou mai hoi oe i ko lakou naau.
37Đức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho dân sự này nhìn biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở lại.
38Alaila haule mai la ke ahi o Iehova, a hoopau iho la i ka mohaikuni, a me ka wahie, a me na pohaku, a me ka lepo, a miki ae la hoi i ka wai iloko o ka auwaha.
38Lửa của Đức Giê-hô-va bèn giáng xuống, thiêu đốt của lễ thiêu, củi, đá, bụi, và rút nước trong mương.
39A ike ka poe kanaka a pau, moe iho la lakou ilalo ke alo, i aku la hoi lakou, O Iehova, oia ke Akua; o Iehova, oia ke Akua.
39Thấy vậy, cả dân sự sấp mình xuống đất, và la rằng: Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!
40I mai la hoi o Elia ia lakou, E hopu i na kaula o Baala, i ole e pakele kekahi. Hopu ae la hoi lakou ia lakou; a alakai ae la o Elia ia lakou i ke kahawai Kisona, a pepehi iho la hoi oia ia lakou malaila.
40Ê-li nói với chúng rằng: Hãy bắt các tiên tri của Ba-anh, chớ cho thoát một người nào. Chúng bèn bắt họ, Ê-li đem họ xuống dưới khe Ki-sôn, và giết họ tại đó.
41I mai la hoi o Elia ia Ahaba, E pii oe, e ai, a e inu; no ka mea, eia ke kamumu ana o ka ua nui.
41Đoạn, Ê-li nói cùng A-háp rằng: Hãy đi lên, ăn và uống, vì tôi đã nghe tiếng mưa lớn.
42Pela i pii ai o Ahaba e ai a e inu hoi. Pii ae la hoi o Elia i ke poo o Karemela, moe iho la oia malalo ma ka honua, a hookomo iho la i kona maka iwaena o kona mau kuli.
42Vậy, A-háp trở lên đặng ăn uống. Nhưng Ê-li leo lên chót núi Cạt-mên, cúi xuống đất và úp mặt mình giữa hai đầu gối.
43Alaila olelo mai la oia i kana kauwa, E pii ae oe ano, e nana i kai. Pii ae la hoi oia, a nana aku la, a i aku la, Aole. Olelo mai la hoi oia, E hele hou i ehiku hele ana.
43Đoạn, người nói với kẻ tôi tớ mình rằng: Xin hãy đi lên, ngó về phía biển. Kẻ tôi tớ đi lên xem, nhưng nói rằng: Không có chi hết. Ê-li lại nói: Hãy trở lên bảy lần.
44Eia kekahi i ka hiku o kona hele ana, i aku la oia, Aia hoi, ke hoea mai la he wahi ao uuku me he lima la o ke kanaka, mailoko mai o ke kai. A olelo mai la oia, E hele oe e olelo aku ia Ahaba, E hoomakaukau ae oe, a e iho ae, o paa mai oe i ka ua.
44Lần thứ bảy, kẻ tôi tớ đáp rằng: Tôi thấy ở phía biển lên một cụm mây nhỏ như lòng bàn tay, Ê-li bèn tiếp: Hãy đi nói với A-háp rằng: Hãy thắng xe và đi xuống, kẻo mưa cầm vua lại chăng.
45Eia kekahi, ia manawa no, poele mai la ka lani i na ao a me ka makani, a nui mai la ka ua. Holo kaa ae la o Ahaba a hiki i Iezereela.
45Trong một lúc, trời bị mây che đen, gió nổi dậy, và có cơn mưa rất lớn. A-háp bèn lên xe mình, đi đến Gít-rê-ên.
46Kau mai la hoi ka lima o Iehova maluna o Elia; kaei iho la oia i kona puhaka iho, a holo ae la imua o Ahaba a i ke komo ana i Iezereela.
46Tay Đức Giê-hô-va giáng trên Ê-li; người thắt lưng, chạy trước A-háp cho đến khi tới Gít-rê-ên.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.