I. Na Lii
Chapter 22
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1NOHO kuikahi ae la lakou i na makahiki ekolu, aohe kaua iwaena o Suria a me ka Iseraela.
1Trong ba năm Sy-ri và Y-sơ-ra-ên không có giặc.
2Eia hoi kekahi, i ke kolu o ka makahiki, iho ae la o Iehosapata ke alii o Iuda i ke alii o ka Iseraela.
2Năm thứ ba, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đi đến cùng vua Y-sơ-ra-ên.
3Olelo mai ke alii o Iseraela i kana poe kauwa, Ua ike anei oukou, no kakou o Ramotagileada, a noho malie kakou, aole lawe mai mai loko mai o ka lima o ke alii o Suria?
3Vua Y-sơ-ra-ên nói với tôi tớ mình rằng: Các ngươi há chẳng biết rằng Ra-mốt trong Ga-la-át thuộc về chúng ta sao? Chúng ta lại làm thinh chẳng rứt nó khỏi tay vua Sy-ri sao!
4I mai la hoi oia ia Iehosapata, E hele anei oe me au i ke kaua ia Ramotagileada? I aku la hoi o Iehosapata i ke alii o Iseraela, Ua like no wau me oe, a me ko'u poe kanaka me kou poe kanaka, a me ko'u poe lio, me kou poe lio.
4Đoạn, người nói với Giô-sa-phát rằng: Vua muốn đến cùng ta đặng đánh lấy Ra-mốt trong Ga-la-át chăng? Giô-sa-phát đáp với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi như ông; dân sự tôi như dân sự ông; và ngựa tôi như ngựa của ông.
5Olelo aku la hoi o Iehosapata i ko alii o Iseraela, Ke noi aku nei au e ninau oe i keia la ma ka olelo a Iehova.
5Song Giô-sa-phát nói với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi xin ông phải cầu vấn Đức Giê-hô-va trước đã.
6Alaila houluulu ae la ke alii o Iseraela i na kaula, eha haneri kanaka paha, ninau aku la ia lakou, E pii anei au i Ramotagileada e kaua, aole paha, ea? Hai mai la hoi lakou, E pii, no ka mea, e haawi mai no ka Haku ia ia iloko o ka lima o ke alii.
6Vậy, vua Y-sơ-ra-ên nhóm các tiên tri lại, số bốn trăm người, mà hỏi rằng: Ta có nên đi đánh Ra-mốt tại Ga-la-át, hay là chẳng nên đi? Chúng đáp rằng: Hãy đi lên; Chúa sẽ phó nó vào tay vua.
7Ninau aku la o Iehosapata, Aohe anei he kaula e ae a Iehova maanei, e hiki ia kaua ke ninau ia ia?
7Nhưng Giô-sa-phát tiếp rằng: ỳ đây còn có đấng tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta cầu vấn người ấy chăng?
8Hai mai la ke alii o Iseraela ia Iehosapata, Hookahi kanaka i koe, o Mikaia ke kiekie a Imela, e hiki ia kaua ke ninau ia Iehova ma o na la; aka, ke hoowahawaha aku nei au ia ia, no ka mea, aole ia i wanana mai i ka maikai no'u, i ka ino wale no. I aku la o Iehosapata, Mai olelo mai ke alii pela.
8Vua Y-sơ-ra-ên đáp với Giô-sa-phát rằng: Còn có một người, tên là Mi-chê, con trai của Giêm-la; nhờ người ấy ta có thể cầu vấn Đức Giê-hô-va; nhưng tôi ghét người, vì người chẳng nói tiên tri lành về tôi, bèn là dữ đó thôi. Giô-sa-phát nói rằng: Xin vua chớ nói như vậy.
9Alaila kahea aku la ke alii o Iseraela i kekahi luna, i aku la, E hoolalelale mai ia Mikaia ke keiki a Imela.
9Vua Y-sơ-ra-ên bèn đòi một hoạn quan mà bảo rằng: Hãy lập tức mời Mi-chê, con trai Giêm-la, đến.
10Noho iho la ke alii o Iseraela, a me Iehosapata ke alii o Iuda, kela a me keia ma kona nohoalii iho, ua komo laua i ko laua mau kapa alii, ma kahi akea ma ke komo ana ma ka ipuka o Samaria; a wanana ae la ka poe kaula a pau imua o laua.
10Vả, vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đều mặc đồ triều phục, đang ngồi trên một cái ngai tại trong sân đạp lúa, nơi cửa thành Sa-ma-ri; và hết thảy tiên tri nói tiên tri trước mặt hai vua.
11Hana iho la o Zedekia ke keiki a Kenaana i mau kiwi hao nona iho: i mai la hoi ia. Me neia mau mea e pahu aku ai oe i ko Suria, a pau ae lakou.
11Sê-đê-kia, con trai Kê-na-na, làm lấy những sừng bằng sắt, và nói rằng: Đức giê-hô-va phán như vầy: Với các sừng này, ngươi sẽ báng dân Sy-ri cho đến khi diệt hết chúng nó.
12Pela i wanana ai ka poe kaula a pau, i ka i ana mai, E pii i Ramotagileada, a e pomaikai; no ka mea, e haawi mai no Iehova iloko o ka lima o ke alii.
12Và hết thảy tiên tri đều nói một cách, mà rằng: Hãy đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át; vua sẽ được thắng, vì Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.
13A o ka luna i hele e kahea ia Mikaia, olelo aku la oia ia ia, i aku la, Aia hoi, o na olelo a ka poe kaula, he maikai i ke alii me ka waha hookahi; a ke noi aku nei au, e like kau olelo me ka olelo a kekahi o lakou, e olelo hoi oe ma ka maikai.
13Vả, sứ giả đã đi mời Mi-chê, nói cùng người rằng: Những tiên tri đều đồng lòng báo cáo sự lành cho vua; tôi xin ông cũng hãy lấy lời như lời của họ mà báo cáo điều lành.
14I mai la hoi o Mikaia, Ma ke ola ana o Iehova, o ka Iehova i olelo mai ai ia'u, oia ka'u e hai aku ai.
14Nhưng Mi-chê đáp rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ta sẽ báo cáo điều gì Đức Giê-hô-va phán dặn ta.
15Hele mai la oia i ke alii. A ninau aku la ke alii ia ia, E Mikaia, e pii ku e anei makou i Ramotagileada e kaua aku, aole paha ia? I mai la oia ia ia, E pii a e pomaikai; no ka mea, e haawi mai no o Iehova iloko o ka lima o ke alii.
15Khi người đã đến cùng vua, vua bèn hỏi rằng: Hỡi Mi-chê, chúng ta có nên đi hãm đánh Ra-mốt trong Ga-la-át, hay là chẳng nên đi? Mi-chê đáp: Hãy đi, vua sẽ được thắng: Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.
16Olelo hou aku la ke alii ia ia, Ehia auanei ko'u mau manawa e kauoha aku ai ia oe e hai mai i ka mea pololei wale no ma ka inoa o Iehova?
16Nhưng vua nói với người rằng: Biết bao lần ta đã lấy lời thề buộc ngươi chỉ khá nói chân thật với ta nhân danh Đức Giê-hô-va.
17I mai la hoi oia, Ua ike au i ka Iseraela e hele liilii ana maluna o na puu, e like me na hipa kahu ole: a olelo mai la Iehova, Aole o lakou haku, a hoi lakou, kela kanaka keia kanaka i kona hale iho me ka maluhia.
17Bấy giờ Mi-chê đáp rằng: Tôi thấy cả Y-sơ-ra-ên bị tản lạc trên các núi, như bầy chiên không có người chăn; và Đức Giê-hô-va phán rằng: Những kẻ ấy không có chủ; ai nấy khá trở về nhà mình bình yên.
18I mai la ke alii o Iseraela ia Iehosapata, Aole anei i hai aku au ia oe, Aole o ka maikai kana e wanana mai ai no'u, aka, o ka ino?
18Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sa-phát rằng: Tôi há chẳng có nói với vua rằng người chẳng nói tiên tri lành về việc tôi, bèn là nói tiên tri dữ sao?
19I hou mai la kela, Nolaila e hoolohe mai i ka olelo a Iehova: Ua ike au ia Iehova e noho ana maluna o kona nohoalii, a e ku kokoke ana ia ia ko ka lani a pau ma kona lima akau a ma kona lima hema.
19Mi-chê lại tiếp: Vậy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngôi Ngài và cả cơ binh trên trời đứng chầu Ngài bên hữu và bên tả.
20Ninau mai la o Iehova, Owai la ka mea e malimali ia Ahaba e pii, a e haule ma Ramotagileada? Hai aku la kekahi penei, a o kekahi penei.
20Đức Giê-hô-va phán hỏi: Ai sẽ đi dụ A-háp, để người đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át, và ngã chết tại đó? Người trả lời cách này, kẻ trả lời cách khác.
21Hele mai kekahi uhane, a ku iho la imua o Iehova, i aku la, Owau no ke malimali aku ia ia.
21Bấy giờ, có một thần ra đứng trước mặt Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: Tôi sẽ đi dụ người. Đức Giê-hô-va phán hỏi thần rằng: Dụ cách nào?
22Ninau mai la hoi o Iehova ia ia, Pehea la? Hai aku la oia, E hele au a e lilo i uhane wahahee iloko o ka waha o kana poe kaula a pau. I mai la hoi oia, E malimali auanei oe ia ia, a e lanakila no hoi; e hele aku, a e hana pela.
22Thần thưa lại rằng: Tôi sẽ đi và làm một thần nói dối trong miệng những tiên tri của người. Đức Giê-hô-va phán rằng: Phải, ngươi sẽ dụ người được. Hãy đi và làm như ngươi đã nói.
23Eia hoi, ua haawi mai nei o Iehova i ka uhane wahahee iloko o ka waha o keia poe kaula au a pau, a ua olelo mai o Iehova i ka ino nou.
23Vậy bây giờ, kìa, Đức Giê-hô-va đã đặt một thần nói dối trong miệng các tiên tri vua, và Đức Giê-hô-va đã phán sự dữ cho vua.
24Hookokoke ae la no nae o Zedekia ke keiki a Kenaana, a kui aku la ia Mikaia ma kona papalina, ninau aku la, Ma ka aoao hea i hele ai ka uhane o Iehova mai o'u aku nei e olelo aku ia oe?
24Bấy giờ, Sê-đê-kia, con trai của Kê-na-na, đến gần Mi-chê, vả vào má người, mà rằng: Thần của Đức Giê-hô-va có do đường nào lìa khỏi ta đặng đến nói với ngươi?
25I mai la o Mikaia, Aia hoi, e ike no oe, i ka la e komo aku ai oe iloko o ke keena oloko e pee iho.
25Mi-chê đáp: Trong ngày ngươi chạy từ phòng này đến phòng kia đặng ẩn lánh, thì sẽ biết điều đó.
26Kena ae la no hoi ke alii o Iseraela, E lalau ia Mikaia, a e hoihoi ia ia io Amona la, i ke alii kiaaina o ke kulanakauhale, a io Ioasa la ke keiki a ke alii;
26Vua Y-sơ-ra-ên truyền lịnh rằng: Hãy bắt Mi-chê dẫn đến cho A-môn, quan cai thành, và cho Giô-ách, con trai của vua,
27A e olelo aku, Ke i mai nei ke alii, E hahao ia ia nei iloko o ka halepaahao, a e hanai ia ia me ka berena o ka popilikia, a me ka wai o ka popilikia, a hiki i ka wa e hoi pomaikai mai ai au.
27rồi hãy nói rằng: Vua bảo như vầy: Hãy bỏ tù người này, lấy bánh và nước khổ nạn mà nuôi nó cho đến khi ta trở về bình an.
28Olelo mai la o Mikaia, Ina e hoi mai oe me ka pomaikai, aole i olelo mai o Iehova ma o'u nei. I mai la hoi oia, E hoolohe, e na kanaka a pau loa.
28Mi-chê tiếp rằng: Nếu vua trở về bình an, thì Đức Giê-hô-va không cậy tôi phán. Người lại nói: Hỡi chúng dân! các ngươi khá nghe ta.
29Pela i pii ai ke alii o Iseraela a me Iehosapata ke alii o Iuda i Ramotagileada.
29Vậy, vua Y-sơ-ra-ên đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át với Giô-sa-phát, vua Giu-đa.
30Olelo mai la ke alii o Iseraela ia Iehosapata, E hoonalonalo iho au ia'u iho e hele iloko o ke kaua, aka, e aahu oe i kou kapa alii. Hoonalonalo iho la ke alii o Iseraela ia ia iho, a hele aku la iloko o ke kaua.
30Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sa-phát rằng: Tôi sẽ giả dạng ăn mặc, rồi ra trận; còn vua hãy mặc áo của vua. Như vậy, vua Y-sơ-ra-ên ăn mặc giả dạng mà ra trận.
31Kauoha ae la ke alii o Suria i kana mau lunakoa he kanakolu kumamalua, maluna o kona mau kaa, i ae la, Aole i ka mea uuku, aole i ka mea nui e kaua aku ai oukou, i ke alii o Iseraela wale no.
31Vả, vua Sỵ-ri đã truyền lịnh cho ba mươi hai quan coi xe mình rằng: Các ngươi chớ áp đánh ai bất k” lớn hay nhỏ, nhưng chỉ một mình vua Y-sơ-ra-ên mà thôi.
32Eia kekahi, i ka ike ana mai o na lunakaa ia lehosapata, i iho la lakou, Oiaio, o ke alii keia o Iseraela. A huli ae la lakou e kaua ia ia; a auwe iho la o lehosapata.
32Vậy, khi các quan coi xe thấy Giô-sa-phát thì nói rằng: Aáy quả thật là vua Y-sơ-ra-ên. Chúng bèn đến gần người đặng áp đánh; nhưng Giô-sa-phát kêu la lên.
33Eia hoi kekahi, i ka ike ana o na lunakaa aole oia ke alii o Iseraela, huli hope ae la lakou mai ka hahai ana ia ia.
33Khi các quan coi xe thấy chẳng phải vua Y-sơ-ra-ên, thì thối lại, không đuổi theo nữa.
34Lena walewale ae la kekahi kanaka i ke kakaka, a ku ia ia ke alii o Iseraela mawaena o na ami o ka paleumauma. Nolaila i olelo aku ai oia i ka mea hooholo i kona kaa, E hoohuli i kou lima, a e lawe aku ia'u mai loko aku o ka poe kaua, no ka mea, ua eha au.
34Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn vua Y-sơ-ra-ên, trúng nhằm người nơi giáp đâu lại. Vua nói cùng kẻ đánh xe mình rằng: Hãy quay cương lại, dẫn ta ra ngoài hàng quân, vì ta bị thương nặng.
35A mahuahua ae ke kaua ia la, a ua paipaiia'e ke alii iloko o kona kaa e ku e ana i ko Suria, a i ke ahiahi, make iho la ia: a kahe iho la ke koko mai loko iho o ka eha a waena konu o ke kaa.
35Nhưng trong ngày đó thế trận thêm dữ dội; có người nâng đỡ vua đứng trong xe mình đối địch dân Sy-ri. Đến chiều tối vua chết; huyết của vít thương người chảy xuống trong lòng xe.
36Laha ae la ka olelo a puni ka poe kaua i ka napoo ana o ka la, e i ana, O kela kanaka keia kanaka i kona hale iho, a o kela kanaka keia kanaka i kona aina iho.
36Lối chiều, trong hàng quân có rao truyền rằng: Ai nấy hãy trở về thành mình, xứ mình.
37Pela i make ai ke alii, a ua laweia mai i Samaria; a kanu iho la lakou i ke alii ma Samaria.
37Vua băng hà là như vậy; người ta đem thây vua về Sa-ma-ri, và chôn tại đó.
38Holoi ae la kekahi i ke kaa maloko o ka wai auau o Samaria, a palu ae la na ilio i ke koko, a holoi ae la lakou i kona mea kaua, e like me ka Iehova olelo, ana i olelo mai ai.
38Người ta rửa xe người tại trong ao Sa-ma-ri, là nơi những bợm buôn hương tắm, và có những chó liếm máu người, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
39A o na hana e ae a Ahaba, a me ka mea a pau ana i hana'i, a me ka hale niho elepani ana i kukulu ai, a me na kulanakauhale ana i kukulu ai, aole anei i kakauia lakou ma ka buke oihana a na lii o ka Iseraela?
39Các chuyện khác của A-háp, những công việc người làm, cái đền bằng ngà người cất, và các thành người xây, đều chép trong sử ký về các vua Y-sơ-ra-ên.
40Pela i hiamoe ai o Ahaba me kona mau makua; a alii ae la o Ahazia kana keiki i kona hakahaka.
40Vậy A-háp an giấc cùng tổ phụ mình, và A-cha-xia, con trai người, kế vị người.
41Hoomaka iho la o Iehosapata ke keiki a Asa i kona alii ana maluna o Iuda, i ka ha o ka makahiki o Ahaba ke alii o Iseraela.
41Năm thứ tư đời A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, thì Giô-sa-phát con trai A-sa, lên ngôi làm vua Giu-đa.
42He kanakolu kumamalima mau makahiki o Iehosapata i ka wa i hoomaka ai oia i kona alii ana, a he iwakalua kumamalima makahiki i alii ai oia maloko o Ierusalema; a o Azuba ka inoa o kona makuwahine ke kaikamahine a Silehi.
42Giô-sa-phát lên ngôi, tuổi được ba mươi lăm; người cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Tên của mẹ người là A-xu-ba, con gái của Si-chi.
43Hele ae hoi oia ma na aoao a pau o Asa kona makuakane, aole oia i kapae ae mai laila ae, e hana ana i ka mea pono ma na maka o Iehova; aka, aole i hoopauia'e na wahi kiekie; kaumaha ae la na kanaka, a kuni ae la i ka mea ala ma na wahi kiekie.
43Người đi theo đường của A-sa, cha người, chẳng xây bỏ đi, song làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va. (022-44) Nhưng người không trừ bỏ các nơi cao; dân sự còn tế lễ và đốt hương tại trên các nơi cao.
44Hookuikahi like ae la o Iehosapata me ke alii o Iseraela.
44(022-45) Giô-sa-phát và vua Y-sơ-ra-ên ở hòa hảo với nhau.
45A o na hana e ae a Iehosapata, a me kona ikaika ana i hoike ai, a me kona kaua ana, aole anei ia i kakauia ma ka buke oihana a na alii o Iuda.
45(022-46) Các chuyện khác của Giô-sa-phát, dõng lực người, những giặc giã người, đều đã chép trong sử ký về các vua Giu-đa.
46A o ke koena o na moeaikane e koe ana i na la o Asa kona makuakane, oia kana i lawe ai mai ka aina aku.
46(022-47) Người trừ diệt những bợm vĩ-gian còn lại trong xứ từ đời A-sa, cha mình.
47Ilaila aole alii ma Edoma; he kiaaina ke alii.
47(022-48) Bấy giờ, dân Ê-đôm không có vua, có một quan trấn thủ cai trị.
48Hana iho la hoi o Iehosapata i na moku ma Taresisa e holo i Opira e kii i gula, aole nae i holo lakou, no ka mea, ua nahaha ua mau moku la, ma Ezionagebera.
48(022:49) Giô-sa-phát đóng một đoàn tàu Ta-rê-si đặng đi Ô-phia chở vàng, nhưng không đi đến đó được, bởi vì tàu vỡ ra tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
49Alaila olelo mai la o Ahazia ke keiki a Ahaba, ia Iehosapata, E hele pu paha ka'u mau kauwa, me kau mau kauwa, ma ia mau moku; aole hoi o Iehosapata i ae aku.
49(022-50) A-cha-xia, con trai của A-háp, nói với Giô-sa-phát rằng: Hãy cho phép các đầy tớ ta đi tàu với các đầy tớ ông. Nhưng Giô-sa-phát không chịu.
50Hiamoe iho la o Iehosapata me kona mau makua, a ua kanuia iho la me kona mau makua, ma ke kulanakauhale o Davida kona kupuna: a alii ae la o Iehorama kana keiki i kona hakahaka.
50(022:51) Giô-sa-phát an giấc với tổ phụ mình, được chôn với họ trong thành Đa-vít, cha người, và Giô-ram, con trai người, kế vị người.
51Hoomaka ae la o Ahazia ke keiki a Ahaba i kona alii ana maluna o ka Iseraela ma Samaria, i ka umikumamahiku o ka makahiki o Iehosapata ke alii o Iuda, elua makahiki i alii ai oia maluna o ka Iseraela.
51(022-52) Năm thứ bảy đời Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì A-cha-xia, con trai A-háp, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và cai trị hai năm.
52Hana hewa ae la hoi oia imua o Iehova, a hele ae la hoi ma ka aoao o kona makuakane, a ma ka aoao o kona makuwahine, a ma ka aoao hoi o Ieroboama ke keiki a Nebata ka mea i hoolilo i ka Iseraela e lawehala.
52(022:53) Người làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, đi theo con đường của cha và mẹ mình, cùng theo đường của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người xui cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
53No ka mea, ua malama oia ia Baala, a hoomana aku la ia ia, a ua hoonaukiuki aku ia Iehova i ke Akua o Iseraela, e like me ka mea a pau a kona makuakane i hana aku ai.
53(022:54) Người hầu việc Ba-anh và thờ lạy nó, chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, cứ theo mọi sự cha người cha người đã làm.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.