I. Na Lii
Chapter 12
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HELE aku la o Rehoboama i Sekema, no ka mea, ua hele ka Iseraela a pau i Sekema e hooalii ia ia.
1Rô-bô-am đến Si-chem vì cả Y-sơ-ra-ên đã hiệp lại tại Si-chem đặng tôn người làm vua.
2Eia hoi kekahi, a lohe mai la o Ieroboama ke keiki a Nebata e noho ana ia ma Aigupita, (no ka mea, ua holo aku la ia mai ke alo aku o Solomona a ke alii, a noho no Ieroboama ma Aigupita;)
2Khi Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, hay điều đó, thì còn ở Ê-díp-tô, là nơi người trốn để thoát khỏi vua Sa-lô-môn.
3Hoouna aku la lakou a kii ia ia; a hele mai Ieroboama a me ke anaina a pau o ka Iseraela, a olelo aku la lakou ia Hehoboama, i aku la.
3Người ta sai tìm người tại đó. Giê-rô-bô-am cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đều đến tâu với Rô-bô-am rằng:
4Ua hookaumaha mai la kou makuakane i ka makou auamo; ano hoi e hoomama oe i ka hana ehaeha a kou makuakane, a me ka auamo kaumaha ana i kau mai ai maluna o makou, alaila e malama aku makou ia oe.
4Thân phụ vua đã làm cho ách chúng tôi nặng quá nhưng bây giờ vua hãy giảm nhẹ sự phục dịch khó nhọc và cái ách nặng mà thân phụ vua đã gán cho chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục dịch vua.
5I mai la oia ia lakou, O hoi oukou i na la ekolu, alaila e hele hou mai io'u nei. Hoi aku la no hoi na kanaka.
5Người đáp với chúng rằng: Hãy lui về, trong ba ngày sẽ trở lại cùng ta. Dân sự bèn lui về.
6A kukakuka mai la o Rehoboama me na kanaka kahiko, ka poe i ku ma ke alo o Solomona kona makuakane, i kona wa e ola ana, ninau mai la, Pehea ia oukou e olelo mai ai e hai aku au i keia poe kanaka?
6Vua Rô-bô-am bàn với các trưởng lão đã hầu hạ Sa-lô-môn, cha mình, trong lúc người còn sống, mà rằng: Các ngươi bàn luận cho ta phải đáp với dân sự này làm sao?
7Olelo aku la lakou ia ia, i aku la, Ina e hookahu oe no keia poe kanaka i keia la, a e malama ia lakou, a e hai aku ia lakou, me ka olelo i na huaolelo pono ia lakou, alaila lilo lakou i poe kauwa mau nau.
7Chúng thưa lại rằng: Nếu ngày nay vua làm như người đầy tớ của dân sự này, phục sự họ, đáp lời, trò chuyện tử tế cùng họ, thì họ sẽ làm tôi tớ vua mãi mãi.
8Haalele ae la oia i ka olelo a ka poe kanaka kahiko, a lakou i haawi ai ia ia, a kukakuka mai la me na kanaka ui i nunui pu ae me ia, na mea i ku imua o kona alo:
8Nhưng Rô-bô-am không theo mưu của các trưởng lão đã bàn cho mình; bàn nghị cùng các kẻ trai trẻ đồng lớn lên với mình, và hầu hạ mình,
9Olelo mai la hoi oia ia lakou, Heaha ka olelo a oukou e olelo mai ai, e hai aku ai kakou i keia poe kanaka, ka poe i olelo mai ia'u, i ka i aua mai, E hoomama oe i ka auamo a kou makuakane i kau mai ai maluna o makou?
9mà rằng: Dân sự này đã tâu với ta rằng: Hãy giảm nhẹ cái ách mà thân phụ vua đã gán cho chúng tôi; vậy, các ngươi bàn luận cho ta phải đáp với chúng nó làm sao?
10Olelo aku la hoi ia ia na kanaka ui i nunui pu ae me ia, i aku la, Penei oe e olelo aku ai i keia poe kanaka i olelo ae nei ia oe, i ka i ana'e, Ua hookaumaha mai la kou makuakane i ka makou auamo; aka, e hoomama mai oe ia mea ia makou; e olelo aku oe ia lakou peneia, E kela aku ka manoanoa o kuu limaiki i ko ka puhaka o ko'u makuakane.
10Các gã trai trẻ đồng lớn lên với người đáp rằng: dân sự này đã tâu với vua rằng: Thân phụ vua khiến ách chúng tôi nặng vua hãy làm cho nó ra nhẹ; vua phải đáp lại cùng chúng như vầy: Ngón tay út ta còn lớn hơn lưng của cha ta.
11Eia hoi ua hooili ka ko'u makuakane i ka auamo kaumaha maluna o oukou, o hoouka hou aku au ma ka oukou auamo; ua hahau ko'u makuakane ia oukou me na huipa, aka, e hahau aku au ia oukou me na moohueloawa.
11Vậy, cha ta đã gác một cái ách nặng cho các ngươi, ta sẽ làm cái ách các ngươi thêm nặng hơn nữa; cha ta sửa phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bọ cạp.
12Pela i hoi mai ai o Ieroboama a me ka poe kanaka a pau io Rehoboama la i ke kolu o ka la, e like me ka ke alii i hoomaopopo ai, i ka i ana mai, E hoi mai oukou io'u nei i ke kolu o ka la.
12Ngày thứ ba, Giê-rô-bô-am và cả dân sự đều đi đến Rô-bô-am, y như vua đã biểu rằng: Hãy trở lại cùng ta trong ba ngày.
13Hai mai la ke alii i kanaka me ka oolea, a ua haalele aku i ka olelo a ka poe kanaka kahiko, a lakou i haawi aku ai ia ia;
13Vua đáp lời với dân sự cách xẳng xớm, không kể các lời bàn luận của các trưởng lão,
14A olelo mai la hoi ia lakou mamuli o ka olelo a na kanaka ui, i mai la, Ua hookaumaha ko'u makuakane i ka oukou auamo, aka, e hoouka hou aku au ma ka oukou auamo; ua hahau ko'u makuakane ia oukou me na huipa, aka, e hahau aku wau ia oukou me na moohueloawa.
14và theo mưu các kẻ trai trẻ mà đáp lại cùng chúng rằng: Cha ta đã khiến cho ách các ngươi nặng nề; ta sẽ làm ách các ngươi càng nặng nề hơn nữa. Cha ta có sửa phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bọ cạp.
15Aole hoi i hoolohe ke alii i kanaka, no ka mea, no ka Haku mai no ia, i hooko mai oia i kana olelo a Iehova i olelo mai ai ma ka lima o Ahiia no Silo, ia Ieroboama ke keiki a Nebata.
15Như vậy, vua không khứng nghe lời dân sự, vì điều đó bởi Đức Giê-hô-va dẫn đến, đặng làm cho ứng nghiệm lời Ngài cậy A-hi-gia ở Si-lô mà phán cho Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát.
16A ike ae la ka Iseraela a pau, i ka hoolohe ole mai o ke alii ia lakou, olelo aku la ka poe kanaka i ke alii, e i ana, Heaha ko makou kuleana iloko o Davida? aole hooilina iloko o ke keiki a Iese. I ko oukou mau halelewa, e ka Iseraela: ano hoi, e nana i kau ohana iho, e Davida. Pela i hoi ai ka Iseraela i ko lakou mau halelewa.
16Khi cả Y-sơ-ra-ên thấy vua không khứng nghe lời họ, bèn đáp cùng người rằng: Chúng ta có phần gì cùng Đa-vít? Chúng ta chẳng có cơ nghiệp chi với con trai Y-sai. Hỡi Y-sơ-ra-ên! hãy trở về trại mình đi. ù Đa-vít! từ rày ngươi khá coi chừng nhà của ngươi. Như vậy Y-sơ-ra-ên đều rút về các trại của họ.
17A o na mamo a Iseraela e noho ana ma na kulanakauhale o Davida, ua alii ae la o Hehoboama maluna o lakou.
17Nhưng về dân Y-sơ-ra-ên ở tại các thành Giu-đa, thì Rô-bô-am cai trị họ.
18Alaila hoouna ae la o Rehoboama ia Adorama, ka lunaauhau, a hailuku ka Iseraela a pau ia ia me na pohaku a make ia. Nolaila hele wikiwiki ae la o Rehoboama ke alii e ee ae i kona kaa, e holo i Ierusalema.
18Bấy giờ, Rô-bô-am sai A-đô-ram là người coi sóc việc cống thuế đến cùng chúng; nhưng cả Y-sơ-ra-ên ném đá người chết. Vua Rô-bô-am lật đật lên xe, trốn về Giê-ru-sa-lem.
19Pela i kipi ai ka Iseraela i ka ohana a Davida a hiki i keia la.
19Aáy vậy, Y-sơ-ra-ên phản nghịch nhà Đa-vít cho đến ngày nay.
20Eia kekahi, i ka lohe ana o ka Iseraela a pau, ua hoi mai o Ieroboama, kii aku la lakou ia ia e hele mai i ke anaina, a hooalii lakou ia ia maluna o ka Iseraela a pau. Aohe mea i hahai i ka ohana a Davida, o ka Iuda wale no.
20Khi dân Y-sơ-ra-ên hay rằng Giê-rô-bô-am đã trở về, bèn sai sứ mời người đến hội mình, và lập người làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên. Chỉ có chi phái Giu-đa cứ theo nhà Đa-vít mà thôi.
21A hoi mai o Rehoboama i Ierusalema, hoakoakoa mai la oia i ka ohana a pau a Iuda, a me ka ohana a Beniamina, hookahi haneri me kanawalu tausani kanaka i waeia, na kanaka kaua, e kaua aku i ka ohana a Iseraela e hoihoi mai i ke aupuni ia Rehoboama ke keiki a Solomona.
21Rô-bô-am đến Giê-ru-sa-lem nhóm hết thảy nhà Giu-đa và chi phái Bên-gia-minh, số là một trăm tám mươi ngàn người lính chiến kén chọn, toan tranh chiến cùng nhà Y-sơ-ra-ên đặng bắt nước phục lại Rô-bô-am, con trai Sa-lô-môn.
22Aka, hiki mai ka olelo a ke Akua, ia Semaia, ke kanaka o ke Akua, i mai la,
22Nhưng Đức Chúa Trời phán cùng Sê-ma-gia, người của Đức Chúa Trời, rằng:
23E olelo aku ia Rehoboama ke keiki a Solomona, ke alii o Iuda, a i ka ohana a pau a Iuda, a me Beniamina, a me ke koena o na kanaka, e i aku,
23Hãy nói cùng Rô-bô-am, con trai Sa-lô-môn, vua Giu-đa, cùng hết thảy nhà Giu-đa, Bên-gia-min, và phần dân sự còn lại, mà rằng:
24Ke i mai nei Iehova penei, Mai pii aku oukou, aole hoi e kaua aku i ko oukou poe hoahanau na mamo a Iseraela, e hoi kela kanaka keia kanaka i kona hale iho, no ka mea, no'u aku nei keia mea. Hoolohe aku la lakou i ka olelo a ka Haku, a huli lakou e hoi e like me ka olelo a Iehova.
24Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi chớ đi lên đánh anh em mình, là dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi người hãy trở về nhà mình, vì sự này bởi ta mà xảy đến. Chúng vâng theo lời Đức Giê-hô-va mà trở về theo mạng lịnh của Ngài.
25Alaila kukulu ae la o Ieroboama ia Sekema ma ka mauna Eperaima, a noho ae la malaila; a hele aku malaila aku, a kukulu ae la ia Penuela.
25Giê-rô-bô-am bèn xây cất Si-chem trên núi Eùp-ra-im, và ở tại đó. Đoạn từ đó người đi ra xây cất Phê-nu-ên.
26I iho la o Ieroboama iloko o kona naau, Ano, e hoi aku ai ke aupuni i ka ohana a Davida.
26Bấy giờ, Giê-rô-bô-am nói thầm rằng: Hoặc nước sẽ trở về nhà Đa-vít chăng.
27Ina e pii ae keia poe kanaka e kaumaha ma ka hale o Iehova, ma Ierusalema, alaila e hoi ka naau o keia poe kanaka i ko lakou haku ia Rehoboama ke alii o Iuda, a e pepehi mai lakou ia'u, a e hoi hou aku ia Rehoboama i ke alii o Iuda.
27Nếu dân sự này đi lên Giê-ru-sa-lem đặng tế lễ tại trong đền của Đức giê-hô-va, thì lòng họ chắc sẽ trở về chúa của họ, là Rô-bô-am, vua Giu-đa; người ta sẽ giết ta đi và trở về với Rô-bô-am, vua Giu-đa.
28Nolaila kuka iho la ke alii, a hana i na keikibipi gula elua, a i mai la oia ia lakou, He nui ko oukou hele ana i Ierusalema: Eia hoi kou mau akua, e Iseraela, i lawe mai ia oe mai ka aina mai o Aigupita.
28Vậy, vua bàn định, rồi truyền làm hai con bò con bằng vàng, và nói với dân sự rằng: Các ngươi đi lên Giê-ru-sa-lem thật khó thay! Hỡi Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần ngươi, đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
29Kukulu ae la hoi oia i kekahi ma Betela, a waiho aku hoi i kekahi ma Dana.
29Người đặt con này tại Bê-tên, và con kia tại Đan.
30Lilo ae la keia mea i hewa, no ka mea, ua hele ae la na kanaka imua o kekahi i Dana.
30Việc đó thành nên tội lỗi, vì dân chúng đi đến Đan đặng thờ lạy bò con ấy.
31Hana iho la oia i hale no na wahi kiekie, a hoolilo ae la i kekahi mau makaainana i poe kahuna, aole o ko na mamo a Levi.
31Giê-rô-bô-am cũng cất chùa miễu trên các nơi cao, chọn lấy người trong vòng dân chúng lập làm thầy tế lễ, không thuộc về chi phái Lê-vi.
32Hana iho la hoi o Ieroboama i ka ahaaina i ka walu o ka malama i ka umikumamalima o ka la, e like me ka ahaaina maloko o Iuda, a kaumaha aku la maluna o ke kuahu. Pela oia i hana'i ma Betela, e kaumaha ana no na keikibipi ana i hana'i; a hoonoho aku la oia ma Betela i na kahuna o na wahi kiekie ana i hana'i.
32Người lại định lập trong tuần tháng tám ngày rằm, một lễ giống như lễ người ta thường dự trong xứ Giu-đa, và người dâng các của lễ trên bàn thờ. Người cũng làm như vậy tại Bê-tên, tế lễ cho hai bò con mà người đã làm nên; lại để tại Bê-tên những thầy tế lễ của các nơi cao mà người đã cất.
33Pela oia i kaumaha ai ma ke kuahu ana i hana'i ma Betela i ka umikumamalima o ka la o ka walu o ka mahina, ana i noonoo ai ma kona naau; a ua hoomaopopo i ka ahaaina na ka poe mamo a Iseraela, a ua kaumaha aku la maluna o ke kuahu, a kuni hoi i ka mea ala.
33Ngày rằm tháng tám, tức là tháng người tự chọn lấy, Giê-rô-bô-am đi lên bàn thờ mình đã cất tại Bê-tên. Người lập một lễ cho dân Y-sơ-ra-ên, rồi đi lên bàn thờ đặng xông hương.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.