I. Na Lii
Chapter 19
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HAI aku la no hoi o Ahaba ia Iezebela i ka mea a pau a Elia i hana'i, a me kona pepehi ana i ka poe kaula me ka pahikaua.
1A-háp thuật lại cho Giê-sa-bên mọi điều Ê-li đã làm, và người đã dùng gươm giết hết thảy tiên tri Ba-anh làm sao.
2Alaila hoouna ae la o Iezebela i ka elele io Elia la, i ae la, Pela hoi e hana mai ai na akua ia'u, a hui hou no, ke hoohalike ole aku au i kou ola apopo me neia ka hora, me ke ola o kekahi o lakou.
2Giê-sa-bên sai một sứ giả đến Ê-li mà nói rằng: Nếu ngày mai trong giờ này, ta không xử mạng sống ngươi như mạng sống của một người trong chúng nó, nguyện các thần đãi ta cách nặng nề.
3A ike oia, ku ae la ia iluna, a holo no kona ola, a hiki i Beereseba no Iuda, a haalele i kana kauwa malaila.
3Vì vậy, Ê-li sợ hãi, đứng dậy chạy đi đặng cứu mạng sống mình. Đến tại Bê-e-Sê-ba, thuộc về Giu-đa, người để tôi tớ mình lại đó.
4A hele ae la hoi oia, i ka hele ana o kekahi la, iloko ae o ka waonahele, hele hoi a noho iho malalo iho o ka laau iunipera; a nonoi aku la hoi nona iho e make ia; i aku la hoi, Ua nui; ano hoi, e Iehova, e lawe aku i kuu ola nei; no ka mea, aole oi aku ko'u maikai mamua o ko'u mau makua.
4Còn người vào đồng vắng, đường đi ước một ngày, đến ngồi dưới cây giếng giêng, xin chết mà rằng: Oâi Đức Giê-hô-va! đã đủ rồi. Hãy cất lấy mạng sống tôi, vì tôi không hơn gì các tổ phụ tôi.
5Moe iho la oia a hiamoe ilalo o ka laau iunipera, aia hoi, ilaila, hoopa mai la kahi anela ia ia, i mai la, E ala, e ai.
5Đoạn, người nằm ngủ dưới cây giếng giêng. Có một thiên sứ đụng đến người và nói rằng: Hãy chổi dậy và ăn.
6Nana ae la hoi ia, aia hoi, kokoke i kona poo, he popopalaoa i hoomoaia maluna o ka lanahu, a he omole wai. Ai iho la ia a inu hoi, a moe hou iho la ilalo.
6Người nhìn thấy nơi đầu mình một cái bánh nhỏ nướng trên than, và một bình nước. Người ăn uống, rồi lại nằm.
7Hele hou mai la ka anela o Iehova, o ka lua ia, a hoopa mai ia ia, i mai la hoi, E ala, e ai, no ka mea, he loihi ka hele ana nou.
7Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến lần thứ nhì, đụng người và nói rằng: Hãy chổi dậy và ăn, vì đường xa quá cho ngươi. Vậy người chổi dậy, ăn và uống,
8Ala ae la ia, a ai iho la, a inu no hoi, a ma ka ikaika no ua ai la, i hele ai oia i na la he kanaha, a i na po he kanaha, i Horeba, ka mauna o ke Akua.
8rồi nhờ sức của lương thực ấy, người đi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm cho đến Hô-rếp, là núi của Đức Chúa Trời.
9Hiki aku la ia ilaila i ke ana, noho ae la hoi ilaila; aia hoi ka olelo a Iehova ia ia, i mai la hoi oia ia ia, He aha la kau e hana nei maanei, e Elia?
9Đến nơi, người đi vào trong hang đá, ngủ đêm ở đó. Và kìa, có lời của Đức Giê-hô-va phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi ở đây làm chi?
10I aku la hoi ia, Ua ikaika loa ae nei au mamuli o Iehova ke Akua o ko ka lani; no ka mea, ua haalele no na mamo a Iseraela i kau berita, ua hoohiolo hoi i kou mau kuahu, a ua pepehi no hoi i kou poe kaula me ka pahikaua: a owau wale no ka i koe mai, a ua imi mai lakou i ko'u ola e lawe aku.
10Người thưa rằng: Tôi đã rất nóng nảy sốt sắng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân; vì dân Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết những tiên tri Ngài; chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng kiếm thế cất mạng sống tôi.
11I mai la hoi oia, E puka'e, a e ku maluna o ka mauna imua o Iehova. Aia hoi, maalo ae la o Iehova, a haehae ae la ka makani nui ikaika i na mauna, a wawahi ae la i na pohaku imua o Iehova; aole nae o Iehova iloko o ka makani: a mahope iho o ka makani, he olai; aole nae o Iehova iloko o ke olai.
11Đức Chúa Trời phán với người rằng: Hãy đi ra, đứng tại trên núi trước mặt Đức Giê-hô-va. Nầy Đức Giê-hô-va đi ngang qua, có một ngọn gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Ngài, xé núi ra, và làm tan nát các hòn đá; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận gió. Sau trận gió có cơn động đất; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong cơn động đất.
12A mahope iho o ke olai, he ahi; aole nae o Iehova iloko o ke ahi; a mahope iho o ke ahi, he kamumu o ke aheahe malie.
12Sau cơn động đất có đám lửa; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong đám lửa. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ.
13Eia kekahi, a lohe o Elia, uhi ae la oia i kona maka i kona aahu, a puka ae la oia a ku ma ke komo ana o ke ana. Aia hoi, he leo ia ia, i mai la hoi ia, O ke aha la kau e hana nei maanei, e Elia?
13Khi Ê-li vừa nghe tiếng đó, thì lấy áo tơi bao phủ mặt mình, đi ra đứng tại nơi miệng hang; này có một tiếng phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi làm chi đây?
14I aku la hoi oia, Ua ikaika loa ae nei au mamuli o Iehova ke Akua o ko ka lani; no ka mea, ua haalele no na mamo a Iseraela i kau berita, ua hoohiolo hoi i kou mau kuahu, a ua pepehi no hoi i kou poe kaula me ka pahikaua; a owau wale no ka i koe mai, a ua imi mai lakou i ko'u ola e lawe aku.
14Người thưa rằng: Tôi rất nóng nảy sốt sắng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì dân Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước của Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết những tiên tri Ngài; chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng tìm cách cất mạng sống tôi.
15I mai la hoi o Iehova ia ia, E hele, e hoi ma kou aoao i ka waonahele o Damaseko; a hiki aku oe, e poni aku ia Hazaela i alii maluna o Suria;
15Nhưng Đức Giê-hô-va đáp với người rằng: Hãy bắt con đường đồng vắng đi đến Đa-mách. Khi đến rồi, ngươi sẽ xức dầu cho Ha-xa-ên làm vua Sy-ri;
16A o Iehu ke keiki a Nimesi kau e poni ai i alii maluna o ka Iseraela; o Elisai ke keiki a Sapata no Abelamehola kau e poni ai i kaula ma kou hakahaka.
16ngươi cũng sẽ xức dầu cho Giê-hu, con trai của Nim-si, làm vua Y-sơ-ra-ên; và ngươi sẽ xức dầu cho Ê-li-sê, con trai Sa-phát, ở A-bên-Mê-hô-la, làm tiên tri thế cho ngươi.
17Eia auanei keia, o ka mea pakele i ka pahikaua a Hazela, oia ka Iehu e pepehi ai; a o ka mea pakele i ka pahikaua a Iehu, oia ka Elisai e pepehi ai.
17Ai thoát khỏi gươm của Ha-xa-ên sẽ bị Giê-hu giết; ai thoát khỏi gươm của Giê-hu sẽ bị Ê-li-sê giết.
18Aka, Ke hookoe nei au i na tausani ehiku iloko o ka Iseraela, i na kuli a pau i kukuli ole ia Baala, a me na waha a pau i honi ole ia ia.
18Nhưng ta đã để dành lại cho ta trong Y-sơ-ra-ên bảy ngàn người không có quì gối xuống trước mặt Ba-anh, và môi họ chưa hôn nó.
19Hele aku la hoi oia mai laila aku, a loaa ia ia o Elisai ke keiki a Sapata, e oopalau ana ia, o na paa bipi kauo he umikumamalua mamua ona, a oia me ka umikumamalua; a maalo ae o Elia ia ia, a kau ae hoi i kona aahu maluna ona.
19Từ đó, Ê-li đi, gặp Ê-li-sê, con trai của Sa-phát đang cày có mười hai đôi bò trước mặt mình, chính người cầm đôi thứ mười hai. Ê-li đi ngang qua người, ném áo choàng mình trên người.
20Haalele ae la hoi oia i na bipi kauo, a hahai aku la mamuli o Elia, i aku la, Ke noi aku nei au e honi au i ko'u makuakane, a me kuu makuwahine, alaila e hahai au mamuli ou. I mai la hoi oia ia ia, E hoi aku, no ka mea, o ke aha la ka'u i hana aku ai ia oe?
20Ê-li-sê bèn bỏ bò mình, chạy theo Ê-li mà nói rằng: Xin cho phép tôi hôn cha và mẹ tôi đã, đoạn tôi sẽ theo ông. Ê-li đáp: Hãy đi và trở lại; vì ta nào có làm gì cho ngươi đâu.
21Hoi hou aku la oia mai ona aku la, a lalau iho la i kekahi paa bipi kauo, a pepehi loa ia, a baila ae la i ko laua io me na mea haua o ka bipi, a haawi ae na na kanaka, a ai iho la lakou. Alaila, ku ae la oia iluna, a hahai aku la mamuli o Elia, a lawelawe ae la nana.
21Ê-li-sê bèn lìa khỏi Ê-li trở về, bắt một đôi bò giết đi, và lấy cày làm củi mà nấu thịt nó, rồi cho các tôi tớ mình ăn. Đoạn, người đứng dậy, đi theo Ê-li, và hầu việc người.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.