1 พงศ์กษัตริย์ 18
Freedom Bible (Thai)Translation
Freedom Bible (Thai)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1ผ่านไปหลายวัน ในปีที่สาม พระดำรัสของพระยาห์เวห์มาถึงเอลียาห์ว่า “จงไปพบอาหับ เราจะส่งฝนลงบนแผ่นดิน”
1Cách lâu ngày, trong năm thứ ba có lời của Đức Giê-hô-va phán dạy Ê-li rằng: Hãy đi, ra mắt A-háp: ta sẽ khiến mưa sa xuống đất.
2เอลียาห์จึงไปพบอาหับ ขณะนั้นการกันดารอาหารรุนแรงมากในสะมาเรีย
2Vậy, Ê-li đi ra mắt A-háp. Vả, tại Sa-ma-ri có cơn đói kém quá đỗi.
3อาหับเรียกโอบาดียาห์ผู้ดูแลราชสำนักมา โอบาดียาห์ยำเกรงพระยาห์เวห์อย่างยิ่ง
3A-háp sai gọi Aùp-đia, là quan gia tể mình. (Aùp-đia rất kính sợ Đức Giê-hô-va.
4เมื่อเยเซเบลกำจัดผู้เผยพระวจนะของพระยาห์เวห์ โอบาดียาห์พาผู้เผยพระวจนะหนึ่งร้อยคนไปซ่อนในถ้ำ ถ้ำละห้าสิบคน และจัดขนมปังกับน้ำให้พวกเขา
4Xảy ra khi Giê-sa-bên diệt hết các đấng tiên tri của Đức Giê-hô-va, thì Aùp-đia có đem một trăm đấng tiên tri đi giấu trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi họ.)
5อาหับบอกโอบาดียาห์ว่า “จงไปทั่วแผ่นดินตามตาน้ำและลำธารทุกแห่ง เผื่อเราจะพบหญ้าไว้เลี้ยงม้ากับล่อให้รอด จะได้ไม่สูญเสียสัตว์ทั้งหมด”
5A-háp nói với Aùp-đia rằng: Hãy đi khắp xứ, xem hết thảy các suối và khe, có lẽ chúng ta sẽ tìm được cỏ, và cứu cho ngựa và la còn sống, không phải diệt hết các súc vật ta chăng?
6ทั้งสองแบ่งเขตกันออกสำรวจ อาหับไปทางหนึ่งตามลำพัง โอบาดียาห์ไปอีกทางตามลำพัง
6Vậy, hai người chia xứ đặng đi tuần. A-háp đi một mình con đường này, và Aùp-đia đi một mình con đường kia.
7ระหว่างทางโอบาดียาห์พบเอลียาห์ เขาจำได้ จึงหมอบกราบแล้วถามว่า “ท่านเอลียาห์เจ้านายของข้า ใช่ท่านหรือ?”
7Aùp-đia đang đi đường, thì gặp Ê-li ra đón mình. Aùp-đia nhìn biết người, sấp mình xuống đất, mà thưa rằng: Hỡi Ê-li chúa tôi! có phải ông chăng?
8เอลียาห์ตอบว่า “ใช่ข้าเอง ไปบอกเจ้านายของเจ้าว่า ‘เอลียาห์อยู่ที่นี่’”
8Người đáp: ã phải ta. Ngươi hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây.
9โอบาดียาห์ตอบว่า “ข้าทำผิดอะไร ท่านจึงส่งข้าผู้รับใช้ไปให้อาหับฆ่า?
9Aùp-đia tiếp rằng: Tôi có phạm tội gì, mà ông muốn phó kẻ tôi tớ ông vào tay A-háp, hầu cho người giết tôi đi?
10พระยาห์เวห์พระเจ้าของท่านทรงมีชีวิตอยู่ ไม่มีชนชาติหรืออาณาจักรใดที่เจ้านายของข้าไม่ได้ส่งคนไปตามหาท่าน เมื่อพวกเขาตอบว่า ‘เขาไม่อยู่ที่นี่’ เจ้านายก็ให้ชนชาติหรืออาณาจักรนั้นสาบานว่าหาท่านไม่พบจริง
10Tôi chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của ông mà thề, chẳng dân nào nước nào mà chủ tôi không sai đến tìm ông và khi người ta đáp rằng: Ê-li không có đây, thì người bắt nước bắt dân ấy thề rằng không ai gặp ông.
11แต่ตอนนี้ท่านบอกให้ข้าไปบอกเจ้านายว่า ‘เอลียาห์อยู่ที่นี่’
11Mà bây giờ, ông lại nói với tôi tớ rằng: Hãy đi nói với chủ ngươi: Ê-li ở đây.
12พอข้าออกจากท่าน พระวิญญาณของพระยาห์เวห์อาจพาท่านไปที่ไหนก็ไม่รู้ เมื่อข้าทูลอาหับแล้วเขาหาท่านไม่พบ เขาจะฆ่าข้า ทั้งที่ข้าผู้รับใช้ยำเกรงพระยาห์เวห์มาตั้งแต่หนุ่ม
12Rồi khi tôi lìa khỏi ông, sẽ có thần của Đức Giê-hô-va đem ông đi nơi nào tôi chẳng biết; vậy, khi tôi đi thuật lại cùng A-háp, mà người không thấy ông, ắt sẽ giết tôi đi. Vả, kẻ tôi tớ ông kính sợ Đức Giê-hô-va từ khi thơ ấu.
13ไม่มีใครเล่าให้ท่านฟังหรือว่าข้าทำอะไรตอนเยเซเบลฆ่าผู้เผยพระวจนะของพระยาห์เวห์? ข้าซ่อนพวกเขาหนึ่งร้อยคนไว้ในถ้ำ ถ้ำละห้าสิบ และเลี้ยงด้วยขนมปังกับน้ำ
13Khi Giê-sa-bên giết các tiên tri của Đức Giê-hô-va, thì tôi có giấu một trăm tiên tri của Đức Giê-hô-va trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi họ; người ta há không có thuật điều đó cho chúa tôi hay sao?
14แล้วท่านยังบอกให้ข้าไปทูลเจ้านายว่า ‘เอลียาห์อยู่ที่นี่’ เขาจะฆ่าข้าแน่”
14Và bây giờ, ông biểu tôi: Hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây. Người ắt sẽ giết tôi đi.
15เอลียาห์ตอบว่า “ข้าขอสาบานโดยพระยาห์เวห์แห่งกองทัพผู้ทรงมีชีวิตอยู่ ผู้ซึ่งข้ายืนรับใช้อยู่ต่อพระพักตร์ว่า วันนี้ข้าจะไปพบอาหับอย่างแน่นอน”
15Ê-li đáp rằng: Ta chỉ sanh mạng Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đấng ta phục sự, mà thề rằng: Chính ngày nay ta sẽ ra mắt A-háp.
16โอบาดียาห์จึงไปพบอาหับและเล่าให้ฟัง อาหับก็ไปพบเอลียาห์
16Vậy, Aùp-đia đi đón A-háp, và thuật lại cho người. A-háp bèn đi đón Ê-li.
17พออาหับเห็นเอลียาห์ก็ถามว่า “เจ้านั่นเองหรือ ผู้ทำให้อิสราเอลเดือดร้อน?”
17Vừa khi A-háp thấy Ê-li, thì nói rằng: Có phải ngươi, là kẻ làm rối loạn Y-sơ-ra-ên chăng?
18เอลียาห์ตอบว่า “ข้าไม่ได้ทำให้อิสราเอลเดือดร้อน ท่านกับราชวงศ์บิดาของท่านต่างหากที่ทำ เพราะพวกท่านละทิ้งพระบัญญัติของพระยาห์เวห์และติดตามบาอัลทั้งหลาย
18Ê-li đáp rằng: Chẳng phải tôi làm rối loạn Y-sơ-ra-ên đâu; bèn là vua và nhà cha vua, bởi vì vua đã bỏ điều răn của Đức Giê-hô-va, và đã tin theo thần Ba-anh.
19บัดนี้จงส่งคนไปรวบรวมชาวอิสราเอลทั้งหมดมาหาข้าที่ภูเขาคารเมล พร้อมผู้เผยพระวจนะของบาอัลสี่ร้อยห้าสิบคน และผู้เผยพระวจนะของอาเชราห์สี่ร้อยคนที่กินอาหารจากโต๊ะของเยเซเบล”
19Vậy bây giờ vua hãy sai người đi nhóm cả Y-sơ-ra-ên, với bốn trăm năm mươi tiên tri của Ba-anh, và bốn trăm tiên tri của Aùt-tạt-tê, ăn tại bàn Giê-sa-bên, khiến họ đến cùng tôi trên núi Cạt-mên.
20อาหับส่งข่าวไปทั่วอิสราเอลและรวบรวมผู้เผยพระวจนะมาที่ภูเขาคารเมล
20Vậy, A-háp sai người đi nhóm cả dân Y-sơ-ra-ên và những tiên tri đến núi Cạt-mên.
21เอลียาห์เข้าไปหาประชาชนทั้งหมดแล้วพูดว่า “พวกท่านจะลังเลอยู่ระหว่างสองฝ่ายอีกนานเท่าไร? ถ้าพระยาห์เวห์เป็นพระเจ้า จงติดตามพระองค์ แต่ถ้าเป็นบาอัล ก็จงติดตามเขา” ประชาชนไม่ตอบสักคำ
21Đoạn Ê-li đến trước mặt dân sự mà nói rằng: Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn. Song dân sự không đáp một lời.
22เอลียาห์จึงพูดกับประชาชนว่า “มีเพียงข้าเท่านั้นที่ยังเหลือเป็นผู้เผยพระวจนะของพระยาห์เวห์ ส่วนผู้เผยพระวจนะของบาอัลมีสี่ร้อยห้าสิบคน
22Bấy giờ, Ê-li nói với dân sự rằng: Trong vòng những tiên tri của Đức Giê-hô-va, chỉ một mình ta còn lại; còn các tiên tri Ba-anh số là bốn trăm năm mươi người.
23ขอให้พวกเขานำวัวตัวผู้สองตัวมาให้เรา พวกเขาเลือกตัวหนึ่ง หั่นเป็นชิ้นแล้ววางบนฟืน แต่อย่าจุดไฟ ส่วนข้าจะเตรียมอีกตัว วางบนฟืนโดยไม่จุดไฟ
23Vậy, hãy cho chúng ta hai con bò đực; họ phải chọn một con cho mình, sả ra từ miếng, sắp để trên củi, nhưng chớ châm lửa. Còn ta, ta sẽ làm con bò kia, để nó trên củi, nhưng không châm lửa.
24พวกท่านเรียกพระนามของพระของตน ส่วนข้าจะเรียกพระนามของพระยาห์เวห์ พระองค์ใดตอบด้วยไฟ ให้ถือว่าพระองค์นั้นเป็นพระเจ้า” ประชาชนทั้งหมดตอบว่า “ตกลงตามนั้น”
24Đoạn, hãy kêu cầu danh của thần các ngươi, còn ta, ta sẽ kêu cầu danh của Đức Giê-hô-va. Thần đáp lời bằng lửa, ấy quả là Đức Chúa Trời. Cả dân sự đều đáp rằng: Lời nói rất phải.
25เอลียาห์พูดกับผู้เผยพระวจนะของบาอัลว่า “พวกท่านมีจำนวนมาก จงเลือกวัวตัวผู้ตัวหนึ่งและเตรียมก่อน แล้วเรียกพระนามของพระของพวกท่าน แต่อย่าจุดไฟ”
25Ê-li bèn nói với những tiên tri Ba-anh rằng: hãy chọn một con bò đực, làm nó trước đi, vì các ngươi đông; rồi hãy cầu khẩn danh của thần các ngươi; nhưng chớ châm lửa.
26พวกเขานำวัวตัวผู้ที่ได้รับมาเตรียมไว้ แล้วร้องเรียกชื่อบาอัลตั้งแต่เช้าจนเที่ยงว่า “บาอัล โปรดตอบพวกเราด้วย!” แต่ไม่มีเสียง ไม่มีใครตอบ พวกเขากระโดดโลดเต้นรอบแท่นบูชาที่สร้างไว้
26Vậy, chúng bắt con bò mà người ta đã ban cho mà làm nó; rồi từ sớm mai đến trưa, chúng cầu khẩn danh của Ba-anh, và rằng: Hỡi Ba-anh! xin đáp lời chúng tôi. Nhưng chẳng có tiếng gì, cũng chẳng ai đáp lời; chúng đều nhảy chung quanh bàn thờ mình đã dựng lên.
27พอเที่ยง เอลียาห์ก็เยาะเย้ยพวกเขาว่า “ร้องให้ดังสิ เพราะเขาเป็นพระเจ้า บางทีเขากำลังครุ่นคิด หรือออกไปที่ไหน หรือเดินทางอยู่ หรืออาจหลับและต้องปลุกให้ตื่น”
27Khi đã đến trưa, Ê-li nhạo chúng mà rằng: Khá la lớn lên đi, vì người là thần; hoặc người đang suy gẫm, hoặc ở đâu xa, hoặc đang đi đường; hay là có lẽ người ngủ, và sẽ thức dậy.
28พวกเขาจึงร้องดังขึ้น และใช้มีดกับหอกกรีดตัวเองตามธรรมเนียมของพวกเขาจนเลือดไหลอาบ
28Vậy, chúng kêu lớn tiếng; và theo thói lệ họ, lấy gươm giáo gạch vào mình cho đến chừng máu chảy ra.
29เมื่อเลยเที่ยงไป พวกเขายังคงเผยพระวจนะต่อไปจนถึงเวลาถวายเครื่องบูชาตอนเย็น แต่ไม่มีเสียง ไม่มีคำตอบ และไม่มีใครสนใจ
29Khi quá trưa rồi, họ cứ nói tiên tri như vậy cho đến giờ dâng của lễ chay ban chiều; nhưng vẫn không có tiếng gì, chẳng ai đáp lời, cũng không cố ý đến.
30เอลียาห์พูดกับประชาชนทั้งหมดว่า “เข้ามาหาข้า” ประชาชนทั้งหมดก็เข้ามาหาเขา เขาซ่อมแท่นบูชาของพระยาห์เวห์ที่ถูกทำลายลง
30Bấy giờ, Ê-li nói với cả dân sự rằng: Hãy đến gần ta. Dân sự bèn đến gần người. Đoạn, Ê-li sửa lại cái bàn thờ của Đức Giê-hô-va bị phá hủy.
31เอลียาห์นำหินสิบสองก้อนมาตามจำนวนเผ่าของลูกหลานยาโคบ ผู้ที่ได้รับพระดำรัสจากพระยาห์เวห์ว่า “เจ้าจะมีชื่อว่าอิสราเอล”
31Người lấy mười hai hòn đá, theo số mười hai chi phái của các con trai Gia-cốp, là người mà lời của Đức Giê-hô-va đã phán cho rằng: Y-sơ-ra-ên sẽ là tên ngươi.
32เขาใช้หินเหล่านั้นสร้างแท่นบูชาในพระนามของพระยาห์เวห์ และขุดร่องรอบแท่นบูชาให้ใหญ่พอที่จะบรรจุเมล็ดพืชสองเซอาห์
32Người dùng mười hai hòn đá ấy mà dựng lên một cái bàn thờ nhân danh Đức Giê-hô-va; chung quanh bàn thờ, người đào một cái mương đựng được hai đấu hột giống;
33เขาจัดเรียงฟืน หั่นวัวตัวผู้เป็นชิ้น ๆ แล้ววางบนฟืน จากนั้นพูดว่า “เติมน้ำใส่ไหสี่ใบให้เต็ม แล้วเทลงบนเครื่องบูชาเผาและบนฟืน”
33rồi chất củi, sả bò tơ ra từ miếng, và sắp nó lên trên củi. Kế người nói:
34เขาพูดว่า “ทำอีกเป็นครั้งที่สอง” พวกเขาก็ทำเป็นครั้งที่สอง เขาพูดว่า “ทำอีกเป็นครั้งที่สาม” พวกเขาก็ทำเป็นครั้งที่สาม
34Hãy múc đầy bốn bình nước, và đem đổ trên của lễ thiêu và củi. Người lại nói: Hãy làm lần thứ nhì; thì người ta làm lần thứ nhì. Người tiếp: Hãy làm lần thứ ba, và họ làm lần thứ ba,
35น้ำไหลไปรอบแท่นบูชา และเขายังเติมน้ำลงในร่องจนเต็ม
35cho đến đỗi nước chảy chung quanh bàn thờ, và đầy cái mương nữa.
36เมื่อถึงเวลาถวายเครื่องบูชาตอนเย็น เอลียาห์ผู้เผยพระวจนะเดินเข้ามาแล้วอธิษฐานว่า “ข้าแต่พระยาห์เวห์ พระเจ้าของอับราฮัม อิสอัค และอิสราเอล ขอให้วันนี้เป็นที่ประจักษ์ว่าพระองค์ทรงเป็นพระเจ้าในอิสราเอล ข้าพระองค์เป็นผู้รับใช้ของพระองค์ และข้าพระองค์ทำทุกสิ่งนี้ตามพระดำรัสของพระองค์
36Đến giờ dâng của lễ chay ban chiều, tiên tri Ê-li đến gần và nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, của Y-sác, và của Y-sơ-ra-ên, ngày nay xin hãy tỏ cho người ta biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên, rằng tôi là kẻ tôi tớ Ngài, và tôi vâng lời Ngài mà làm mọi sự này.
37ข้าแต่พระยาห์เวห์ โปรดตอบข้าพระองค์ โปรดตอบข้าพระองค์ เพื่อประชาชนนี้จะได้รู้ว่าพระองค์ พระยาห์เวห์ ทรงเป็นพระเจ้า และพระองค์ทรงนำใจของพวกเขากลับมาหาพระองค์อีกครั้ง”
37Đức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho dân sự này nhìn biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở lại.
38แล้วไฟจากพระยาห์เวห์ก็ตกลงมา เผาผลาญเครื่องบูชาเผา ฟืน หิน และฝุ่นดิน ทั้งยังเลียน้ำที่อยู่ในร่องจนหมด
38Lửa của Đức Giê-hô-va bèn giáng xuống, thiêu đốt của lễ thiêu, củi, đá, bụi, và rút nước trong mương.
39เมื่อประชาชนทั้งหมดเห็นดังนั้น พวกเขาก็ซบหน้าลงกับพื้นและร้องว่า “พระยาห์เวห์ทรงเป็นพระเจ้า! พระยาห์เวห์ทรงเป็นพระเจ้า!”
39Thấy vậy, cả dân sự sấp mình xuống đất, và la rằng: Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!
40เอลียาห์สั่งพวกเขาว่า “จับผู้เผยพระวจนะของบาอัลไว้! อย่าให้หนีไปได้แม้แต่คนเดียว!” พวกเขาจับคนเหล่านั้นไว้ เอลียาห์พาพวกเขาลงไปที่ลำธารคีโชนและฆ่าพวกเขาที่นั่น
40Ê-li nói với chúng rằng: Hãy bắt các tiên tri của Ba-anh, chớ cho thoát một người nào. Chúng bèn bắt họ, Ê-li đem họ xuống dưới khe Ki-sôn, và giết họ tại đó.
41เอลียาห์พูดกับอาหับว่า “ลุกขึ้นไปกินและดื่มเถิด เพราะข้าได้ยินเสียงฝนที่กำลังจะตกอย่างหนัก”
41Đoạn, Ê-li nói cùng A-háp rằng: Hãy đi lên, ăn và uống, vì tôi đã nghe tiếng mưa lớn.
42อาหับจึงขึ้นไปกินและดื่ม ส่วนเอลียาห์ขึ้นไปบนยอดเขาคารเมล ก้มลงกับพื้นและซบหน้าระหว่างหัวเข่า
42Vậy, A-háp trở lên đặng ăn uống. Nhưng Ê-li leo lên chót núi Cạt-mên, cúi xuống đất và úp mặt mình giữa hai đầu gối.
43เขาพูดกับคนรับใช้ว่า “ขึ้นไปดูทางทะเลเดี๋ยวนี้” คนรับใช้ขึ้นไปดูแล้วตอบว่า “ไม่มีอะไรเลย” เอลียาห์พูดว่า “กลับไปดูอีก” เขาสั่งเช่นนี้เจ็ดครั้ง
43Đoạn, người nói với kẻ tôi tớ mình rằng: Xin hãy đi lên, ngó về phía biển. Kẻ tôi tớ đi lên xem, nhưng nói rằng: Không có chi hết. Ê-li lại nói: Hãy trở lên bảy lần.
44ครั้งที่เจ็ด คนรับใช้รายงานว่า “ดูสิ มีเมฆก้อนเล็ก ๆ ขนาดเท่าฝ่ามือคนลอยขึ้นมาจากทะเล” เอลียาห์จึงพูดว่า “ขึ้นไปบอกอาหับว่า ‘เตรียมรถแล้วลงไปเถิด อย่าให้ฝนขวางทางท่าน’”
44Lần thứ bảy, kẻ tôi tớ đáp rằng: Tôi thấy ở phía biển lên một cụm mây nhỏ như lòng bàn tay, Ê-li bèn tiếp: Hãy đi nói với A-háp rằng: Hãy thắng xe và đi xuống, kẻo mưa cầm vua lại chăng.
45ไม่นานท้องฟ้าก็มืดครึ้มด้วยเมฆและลม แล้วฝนก็ตกหนัก อาหับขึ้นรถม้าไปยังยิสเรเอล
45Trong một lúc, trời bị mây che đen, gió nổi dậy, và có cơn mưa rất lớn. A-háp bèn lên xe mình, đi đến Gít-rê-ên.
46พระหัตถ์ของพระยาห์เวห์อยู่เหนือเอลียาห์ เขารวบเสื้อคลุมเหน็บเอวแล้ววิ่งนำหน้าอาหับไปจนถึงทางเข้ายิสเรเอล
46Tay Đức Giê-hô-va giáng trên Ê-li; người thắt lưng, chạy trước A-háp cho đến khi tới Gít-rê-ên.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.