2 Самуїлова
Chapter 4
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

2 Самуїлова 4

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Як довідався Саулів син Евостей, що в Гебронї зійшов із сьвіту Абенир, опустив руки, і ввесь Ізраїль засмутився.
1Khi con trai của Sau-lơ hay rằng Aùp-ne đã thác tại Hếp-rôn, thì sờn lòng rủn chí, và cả Y-sơ-ra-ên đều bối rối.
2Було ж у Саулового сина Евостея два мужі, гетьмани прибічників; імя одному Баана, а другому Рихаб, сини Реммона Бееротянина, з потомків Беняминових, бо й Беерот прилїчено до Бенямина.
2Vả, con trai Sau-lơ có hai đội trưởng, một người tên là Ba-a-na, một người tên là Rê-cáp: hai người là con trai của Rim-môn ở Bê-ê-rốt về chi phái Bên-gia-min, -vì dân Bê-ê-rốt kể như người Bên-gia-min,
3(А Бееротяне повтїкали в Гиттаїм, і держались там по сей день заволоками.
3mặc dầu chúng đã chạy trốn nơi Ghi-tha-im, là nơi chúng ở cho đến ngày nay. -
4А в Саулового сина Йонатана був син кульгавий. Було йому пять год віку, як прийшли з Езрееля вістї про Саула й Йонатана. І взяла було його нянька та й кинулась на втеки, й коли вона сквапно втїкала, упав він та й зробився кульгавим. Звали його Мемфівостей.)
4Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, có một con trai bại chân: khi tin Sau-lơ và Giô-na-than thác ở Gít-rê-ên thấu đến, thì nó đã được năm tuổi. Vú nó đem nó chạy trốn; trong cơn lật đật trốn, nó té, nên nỗi nó trở nên què. Tên nó là Mê-phi-bô-sết.
5Отже Реммонові сини з Беерота, Рихаб та Баана пійшли та й пробрались ув Евостеєву господу під полуденну жару, як той саме лїг на постелї спати.
5Hai con trai của Rim-môn ở Bê-ê-rốt, là Rê-cáp và Ba-a-na, trong lúc trời nắng ban ngày, đi đến nhà ỗch-bô-sết, người đang nằm nghỉ trưa.
6Та й придверниця домова, чистивша пшеницю, й собі схилилась та заснула; от і підкрались Рихаб та брат його Баана, ввійшли в середину, нїби тому, щоб купити пшеницї.
6Hai người đi tuốt đến giữa nhà, giả đò lấy lúa mì, rồi đâm bụng ỗch-bô-sết; đoạn Rê-cáp và Ba-a-na, anh người, trốn đi.
7Як же пробрались вони в будинок, аж той спить собі в опочивальнї на постелї, й вони вбили його та й утяли йому голову, і взяли голову його з собою та й ійшли пустинею всю ніч.
7Vậy, hai người đi vào nhà ỗch-bô-sết, trong khi người nằm nghỉ trên giường tại phòng ngủ, đánh giết người; đoạn cắt lấy đầu người, rồi bắt đường đồng bằng mà đi trọn đêm.
8І принесли вони Евостеєву голову Давидові в Геброн, та й промовили до царя: Ось тобі голова Евостеєва Сауленкова, ворога твого, що хотїв згубити з сьвіту тебе; Господь же тепер помстився за пана мого, царя, на Саулї й на потомках його.
8Hai người đem đầu ỗch-bô-sết về Hếp-rôn, dâng cho vua Đa-vít, mà rằng: Nầy là đầu của ỗch-bô-sết, con trai của Sau-lơ, kẻ thù nghịch vua, vẫn toan hại mạng sống vua; ngày nay Đức Giê-hô-va đã báo thù Sau-lơ và dòng dõi người cho vua, là chúa tôi.
9Давид же дав Рихабові та братові його Баанї, синам Реммона з Беероту, таку відповідь: Так певно, як живий Господь, що визволив душу мою з усякої нужди,
9Nhưng Đa-vít đáp cùng Rê-cáp và Ba-a-na con trai của Rim-môn ở Bê-ê-rốt, mà rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã cứu ta khỏi các hoạn nạn, mà thề rằng:
10Коли того, що принїс менї звістку: Саул полїг, і що вважав себе щасливим вістовиком, звелїв я взяти й стяти в Секегалї, замість дати йому нагороду,
10Ta đã sai bắt kẻ đã đến thuật cho ta hay rằng Sau-lơ đã thác, và tư tưởng rằng mình là một sứ giả đem tin lành; ta đã giết kẻ đó tại Xiếc-lác đặng trả công cho một sự báo tin dường ấy.
11То тепер, коли ледарі вбили чоловіка безвинного в його господї на постелї його, чи ж не буду вимагати крові його од вас, та й не викореню вас із землї?
11Phương chi những kẻ hung ác đã giết một người lành nằm trên giường tại trong nhà mình! Vậy, ta há chẳng nên đòi huyết người lại nơi tay các ngươi, và diệt các ngươi khỏi đất sao?
12І повелїв Давид людям своїм, і повбивали вони їх, повтинали їм руки й ноги та й повішали над ставом у Гебронї; Евостеєву ж голову взяли та й поховали в Абенировому гробі в Гебронї.
12Đa-vít bèn truyền lịnh các đầy tớ mình giết hai người đó. Chúng chặt tay và chân họ, rồi treo thây gần bên ao Hếp-rôn. Đoạn, chúng lấy đầu của ỗch-bô-sết, chôn trong mồ Aùp-ne, tại Hếp-rôn.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.