II. Samuela
Chapter 20
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1I LAILA kekahi kanaka hewa, o Seba kona inoa, ke keiki a Bikeri, he mamo a Beniamina: puhi aku la ia i ka pu, i aku la, Aole a kakou kuleana iloko o Davida, aole hoi he hooilina iloko o ke keiki a Iese: e hoi no kela kanaka keia kanaka a pau i kona halelewa, e ka Iseraela.
1Tại đó có một người gian tà tên là Sê-ba, con trai của Biếc-ri, người Bên-gia-min; người thổi kèn lên và nói rằng: Chúng ta chẳng có phần nào cùng Đa-vít, cũng chẳng can thiệp gì nơi con trai Y-sai. Hỡi Y-sơ-ra-ên, mỗi người hãy trở về trại mình!
2Alaila pii aku la na kanaka a pau o Iseraela mai o Davida aku la, a hahai aku la lakou ia Seba ke keiki a Bikeri: aka, hoopili aku la na kanaka o ka Iuda i ko lakou alii, mai Ioredane a hiki i Ierusalema.
2Hết thảy dân Y-sơ-ra-ên bèn phân rẽ Đa-vít, theo Sê-ba, con trai Biếc-ri; nhưng người Giu-đa vẫn trung tín cùng vua mình, theo người từ Giô-đanh cho đến Giê-ru-sa-lem.
3Hele mai la o Davida i kona hale i Ierusalema: a lawe ae la ke alii i ua mau haiawahine la he umi ana i waiho ai e kiai i ka hale, a hahao ae la ia lakou iloko o ka halepaahao, a hanai aku la ia lakou; aka, aole ia i komo aku iloko io lakou la. Pela lakou i paa ai e noho kane ole ana, a hiki i ko lakou la make.
3Khi Đa-vít trở về cung mình tại Giê-ru-sa-lem rồi, thì bắt mười người cung phi vua đã để cho coi giữ đền, mà cầm trong một nhà riêng, cấp lương thực cho chúng nó dùng; nhưng không đi đến cùng chúng nó; chúng nó bị giam cầm, ở góa cho đến ngày chết.
4Alaila i aku la ke alii ia Amasa, E houluulu oe no'u i na kanaka o ka Iuda i na la ekolu, a e hoi hou mai maanei.
4Kế đó, vua nói cùng A-ma-sa rằng: Trong ba ngày đây, hãy nhóm hiệp cho ta những người Giu-đa; và chính ngươi cũng phải có mặt đây.
5Alaila hele aku la o Amasa e houluulu i ka Iuda: aka, ua lohi kela a hala ka manawa i haawiia nona.
5Vậy, A-ma-sa đi đặng nhóm hiệp người Giu-đa; nhưng người chậm trễ đã quá hạn đã định.
6I aku la o Davida ia Abisai, Ano, e oi aku ke ino a Seba ke keiki a Bikeri e hana mai ai ia kakou mamua o ka Abesaloma: e lawe oe i na kauwa a kou haku, a e alualu aku ia ia, o loaa ia ia na kulanakauhale i paa i ka pa, a hoopakele ia ia iho mai o kakou aku.
6Đa-vít bèn nói với A-bi-sai rằng: Bây giờ, Sê-ba, con trai Biếc-ri, sẽ làm hại chúng ta hơn Aùp-sa-lôm. Vậy, ngươi hãy đem các chiến sĩ của chúa ngươi, đuổi theo Sê-la, kẻo nó choán lấy thành nào kiên cố, và thoát khỏi chúng ta chăng?
7A hele aku la mamuli ona na kanaka o Ioaba, me ka poe Kereti a me ka poe Peleti, a me ka poe kanaka ikaika a pau: puka aku la lakou iwaho o Ierusalema e alualu ia Seba ke keiki a Bikeri.
7Bấy giờ, đạo binh Giô-áp, người Kê-rê-thít và người Phê-rê-thít với các kẻ dõng sĩ hơn hết, đều đi theo A-bi-sai. Họ đi ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, đuổi theo Sê-ba con trai Biếc-ri.
8Aia hiki aku lakou ma ka pohaku nui i Gibeoua, hele aku la o Amasa imua o lakou. A o ka aahu a Ioaba i aahu iho ai, ua kakuaia ia maluna ona, a maluna iho ke kaei; ua paaia ma kona puhaka ka pahikaua maloko o kona wahi: a i kona hele ana aku, haule iho la ia mea.
8Khi chúng đến gần bên hòn đá lớn của Ga-ba-ôn, thì thấy A-ma-sa đi đến. Giô-áp mặc áo lính, ở ngoài có dây đeo gươm mình, thòng ở nơi hông và đút trong vỏ. Khi người xơm tới, gươm bèn tuột ra.
9I aku la o Ioaba ia Amasa, E ola ana oe, e kuu hoahanau? Lalau aku la Ioaba ia Amasa ma ka umiumi me ka lima akau e honi ia ia.
9Giô-áp nói với A-ma-sa rằng: Hỡi anh, anh mạnh chăng? Rồi người lấy bàn tay hữu nắm râu A-ma-sa đặng hôn người.
10Aole i manao o Amasa i ka pahikaua ma ka lima o Ioaba: hou aku la kela ia ia me ia mea ma ka lima o ka iwiaoao, a poha mai la kona naau ma ka honua, aole ia i hou hou aku ia ia; a make aku la ia. A alualu aku la o Ioaba a me Abisai kona hoahanau ia Seba ke keiki a Bikeri.
10A-ma-sa không coi chừng cây gươm ở nơi tay kia của Giô-áp. Giô-áp đâm một mũi trong bụng, ruột A-ma-sa đổ ra xuống đất, người chết, không phải đâm lại lần thứ nhì. Đoạn, Giô-áp và A-bi-sai, em người lại đuổi theo Sê-ba, con trai Biếc-ri.
11Ku mai la kekahi kanaka o Ioaba ma ona la, i mai la, O ka mea makemake ia Ioaba, a o ka mea no Davida, mamuli ia o Ioaba.
11Một đứa trẻ trong bọn đầy tớ của Giô-áp đứng gần A-ma-sa mà nói rằng: Ai thương Giô-áp và thuộc về Đa-vít hãy theo Giô-áp.
12Oni ae la o Amasa maloko o ke koko, iwaena o ke kuamoo. A ike ae la ua kanaka la, ua ku malie iho la na kanaka a pau, lawe aku la oia ia Amasa mawaho o ke kuamoo i ke kula, a hohola iho la i ke kapa maluna ona, i kona ike ana ua ku malie kela kanaka keia kanaka i hele mai ma ona la.
12Song A-ma-sa đẵm trong máu ở giữa đường; khi đứa trẻ thấy hết thảy dân chúng đều dừng lại gần thây A-ma-sa, thì xít thây người khỏi đường, đem đi trong một cánh đồng, đắp một cái áo choàng trên nó.
13A laweia'ku ia mawaho o ke kuamoo, alaila hele aku la na kanaka a pau mahope o Ioaba, e alualu ia Seba ke keiki a Bikeri.
13Khi thây đã cất khỏi đường cái rồi, thì hết thảy dân chúng đều đi qua theo Giô-áp đặng đuổi theo Sê-ba, con trai Biếc-ri.
14Hele aku la ia ma na ohana a pau o ka Iseraela, a hiki i Abela a i Betemaka; a i ka poe Beerota a pau: a ua houluuluia e la hoi lakou a hahai aku la mahope ona.
14Giô-áp đi khắp các chi phái Y-sơ-ra-ên, cho đến A-bên-Bết-ma-ca, và hết thảy những dõng sĩ đều nhóm hiệp lại và đi theo đạo quân người.
15Hiki aku la lakou, a hoopuni ae la ia ia iloko o Abela-betemaka, hooahu aku la lakou i ka puu e ku pono i ke kulanakauhale, e ku ana ia ma ka pa mawaho: kui aku la ko Ioaba poe kanaka a pau i ka pa pohaku e hoohiolo ia mea malalo.
15Vậy, họ đến vây phủ Sê-ba trong A-bên-Bết-ma-ca, đắp lên một cái lũy cao hơn đồn thành, và cả đạo quân Giô-áp đào tường thành đặng làm cho nó ngã xuống.
16Alaila, hea mai la kekahi wahine naauao mailoko mai o ke kulanakauhale, E hoolohe mai, e hoolohe mai; ke noi aku nei au ia oukou, e i aku ia Ioaba, E hele mai a kokoke, i olelo aku ai au me oe.
16Bấy giờ, có một người nữ khôn ngoan ở trên đầu đồn thành la lên cùng chúng rằng: Các ngươi hãy nghe, hãy nghe! Xin hãy nói cùng Giô-áp lại gần đây, tôi muốn nói chuyện cùng người.
17A hiki aku la ia a kokoke io na la, i mai la ka wahine, O Ioaba anei oe? I aku la ia, Owau no. Alaila i mai la kela, E hoolohe mai oe i ka olelo a kau kauwawahine. I aku la ia, Ke lohe nei au.
17Khi Giô-áp đã lại gần, người nữ hỏi rằng: Oâng có phải Giô-áp chăng? người đáp: Phải, ta. Nàng tiếp: Hãy nghe lời con đòi ông. Người đáp: Ta nghe.
18Olelo mai la kela, i mai la, I olelo io mai la lakou mamua, i ka i ana, He oiaio no e ninau mai ana lakou ma Abela, a pela e hooki ai.
18Nàng bèn nói như lời nầy: Thuở xưa người ta có thói quen nói rằng: hãy đi hỏi ý dân A-bên; rồi mới nên việc như thế.
19Owau no ke noho malie a me ka malama iloko o ka Iseraela: ke manao nei oe e luku mai i kekahi kulanakauhale a me ka makuwahine iloko o ka Iseraela. No ke aha la oe e hoopau ai i ka aina a Iehova i hooili mai ai?
19Trong Y-sơ-ra-ên, thành chúng tôi là một thành hòa bình và trung hậu hơn hết, mà ông lại muốn diệt một thành, là chánh đô của Y-sơ-ra-ên sao? Nhân sao ông muốn phá hủy cơ nghiệp của Đức Giê-hô-va?
20Olelo aku la o Ioaba, i aku la, Aole loa, aole loa ia'u ia ke hoopau iho, aole loa ke luku aku.
20Giô-áp đáp rằng: Không, không phải vậy đâu! Ta quyết hẳn không muốn diệt, không muốn phá hủy!
21Aole pela ka mea; aka, he wahi kanaka no ka mauna o Eperaima, o Seba ke keiki a Bikeri ka inoa, ua hookiekie ae ia i kona lima e ku e i ke alii ia Davida: e haawi mai ia ia wale no, a e hoi hou aku no wau mai ke kulanakauhale aku. I mai la ka wahine ia Ioaba, Eia hoi, e kiolaia'ku kona poo i ou la mawaho o ka pa.
21Đó chẳng phải là ý ta. Nhưng có một người ở núi Eùp-ra-im tên là Sê-ba, con trai của Biếc-ri, đã phản nghịch cùng vua, tức là Đa-vít. Hãy nộp một mình hắn thôi, thì ta sẽ dan ra khỏi thành. Người nữ nói cùng Giô-áp rằng: Người ta sẽ ném đầu hắn qua tường cho ông.
22Alaila hele aku la ua wahine la i na kanaka a pau ma kona akamai. A oki iho la lakou i ke poo o Seba ke keiki a Bikeri, a kiola aku la iwaho io Ioaba la. Hookani aku la ia i ka pu, a hoi aku la lakou, o kela kanaka keia kanaka i kona halelewa iho. A hoi aku la o Ioaba i Ierusalema a i ke alii.
22Vậy, người nữ ấy đến trước mặt cả dân chúng, và nói cho nghe lời ý luận khôn ngoan của nàng. Chúng chém đầu Sê-ba, con trai Biếc-ri, rồi ném cho Giô-áp. Giô-áp bèn thổi kèn lên; đạo quân dan ra khỏi thành và tản đi; ai nấy đều trở về nhà mình, còn Giô-áp trở về Giê-ru-sa-lem, gần bên vua.
23A o Ioaba, maluna no ia o ka poe kaua a pau no ka Iseraela: a o Benaia ke keiki a Iehoida, maluna no ia o ka poe Kereti a me ka poe Peleti.
23Giô-áp tổng lãnh cả đạo binh của Y-sơ-ra-ên; Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, làm đầu trưởng các người Kê-rê-thít và Phê-rê-thít;
24A o Adorama, maluna no ia o ke auhau: a o lehosapata ke keiki a Ahiluda ke kakaumooolelo:
24A-đô-ram được bầu cử coi về thuế khóa; Giô-sa-phát, con trai A-hi-lút, làm thủ bộ;
25A o Seva ke kakauolelo: a o Zadoka me Abiatara na kahuna:
25Sê-gia làm thơ ký; Xa-đốc và A-bia-tha làm thầy tế lễ.
26A o Ira hoi no Iaira, kekahi alii ia no Davida.
26Còn Y-ra, người Giai-rơ, làm tể tướng thân mật của Đa-vít.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.