II. Samuela
Chapter 5
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LAILA hele mai la na ohana a pau o ka Iseraela io Davida la i Heberona, a olelo mai la lakou, Eia hoi, hookahi no ko kakou iwi a me ka io.
1Bấy giờ, hết thảy các chi phái Y-sơ-ra-ên đến cùng Đa-vít tại Hếp-rôn, mà nói rằng: Chúng tôi đây vốn là cốt nhục của vua.
2I ka wa mamua no hoi, ia Saula i alii ai maluna o kakou, o oe no ka mea nana i alakai aku a i alakai mai i ka Iseraela; i mai la hoi o Iehova ia oe, E hanai oe i ko'u poe kanaka i ka Iseraela, a e lilo oe i luna no ka Iseraela.
2Đã từ xưa, khi Sau-lơ còn cai trị chúng tôi, chính vua đã dắt Y-sơ-ra-ên ra trận và đem họ về. Đức Giê-hô-va có phán cùng vua rằng: Ngươi sẽ chăn dân sự ta, và làm vua của Y-sơ-ra-ên.
3Pela na lunakahiko a pau o ka Iseraela i hele mai ai i ke alii ma Heberona; a hoopaa iho la ke alii o Davida i berita me lakou ma Heberona imua o Iehova: a poui iho la lakou ia Davida i alii no ka Iseraela.
3Vậy, hết thảy các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến cùng vua tại Hếp-rôn, vua Đa-vít lập giao ước với họ tại Hếp-rôn, trước mặt Đức Giê-hô-va, và chúng xức dầu cho Đa-vít làm vua của Y-sơ-ra-ên.
4He kanakolu na makahiki o Davida, i kona wa i lilo ai i alii, a nohoalii iho la ia i na makahiki he kanaha.
4Khi Đa-vít khởi trị vì, tuổi đã được ba mươi; người cai trị bốn mươi năm.
5Ehiku mau makahiki a me na malama keu eono i nohoalii iho ai oia ma Heberona maluna o ka Iuda; a ma Ierusalema i nohoalii iho ai oia maluna o ka Iseraela a pau a me ka Iuda i na makahiki he kanakolu a me kumamakolu.
5Tại Hếp-rôn, Đa-vít trị vì trên Giu-đa bảy năm sáu tháng; rồi tại Giê-ru-sa-lem, người trị vì trên cả dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa ba mươi ba năm.
6Hele aku la ke alii a me na kauaka ona i Ierusalema i ka poe Iebusi, na kamaaina o ia wahi. Olelo mai la lakou ia Davida, i ka i ana mai, Ina aole oe e lawe aku i ka poe makapo a me ka poe oopa, aole no oe e komo mai ia nei: e manao ana lakou aole e komo o Davida ilaila.
6Vua và các thủ hạ kéo đến Giê-ru-sa-lem, đánh dân Giê-bu-sít, vốn ở tại xứ nầy. Chúng nó nói cùng Đa-vít rằng: Ngươi chớ vào đây: những kẻ đui và què, đủ mà xô đuổi người đi! nghĩa là muốn nói: Đa-vít sẽ không vào đây được.
7Aka, hoopio ae la o Davida i ka pakaua o Ziona, oia hoi ke kulanakauhale o Davida.
7Nhưng Đa-vít hãm lấy đồn Si-ôn: ấy là thành Đa-vít.
8I aku la Davida ia la, O na mea pepehi i ka Iebusi, e hele lakou i ke kahawai e luku i ka poe oopa a me ka poe makapo, i ka poe i inainaia e ko Davida naau; no ka mea, ua olelo na mea makapo a me na mea oopa, Aole ia e hiki maloko o ka hale.
8Trong ngày đó, Đa-vít nói rằng: Phàm người nào đánh dân Giê-bu-sít, nhào xuống khe kẻ què và kẻ đui chúng nó, tức những kẻ cừu địch của Đa-vít, (sẽ được làm đầu mục và quan trưởng). Bởi cớ đó có tục ngữ rằng: Kẻ đui và kẻ què đều sẽ chẳng vào nhà nầy.
9Noho iho la o Davida iloko o ka pakaua, a kapa iho la ia wahi, O ke kulanakauhale o Davida: a kukulu iho la o Davida i na hale ma Milo mawaho a maloko.
9Đa-vít ở trong đồn, đặt tên là thành Đa-vít; người xây vách tứ vi từ Mi-lô trở về trong.
10Mahuahua ae la o Davida a nui loa, me ia pu no hoi o Iehova ke Akua o na kaua.
10Đa-vít càng ngày càng cường thạnh, và Giê-hô-va là Đức Chúa Trời vạn quân ở cùng người.
11A o Hirama ke alii o Turo, hoouna mai la ia i na elele io Davida la, me na laau kedera, a me na kamana, a me na kalaipohaku; a hana iho la lakou i hale no Davida.
11Hi-ram, vua thành Ty-rơ, sai sứ đến Đa-vít, đem theo gỗ bá hương, thợ mộc, thợ đá đặng xây cất một cái đền cho Đa-vít.
12Ike pono iho la o Davida, ua hookupaa iho no o Iehova ia ia i alii maluna o ka Iseraela, a ua hookiekie ae ia i kona aupuni no kona poe kanaka no ka Iseraela.
12Bấy giờ, Đa-vít nhìn biết rằng Đức Giê-hô-va đã lập mình làm vua trên Y-sơ-ra-ên, và khiến nước mình được thạnh vượng vì cớ dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
13Lawe hou ae la o Davida i na haiawahine a me na wahine hoi nana no Ierusalema, mahope iho o kona hele ana mai mai Heberona mai: a hanau mai la na keikikane hou a me na kaikamahine hou na Davida.
13Sau khi Đa-vít từ Hếp-rôn đến, thì còn cưới thêm những hầu và vợ ở Giê-ru-sa-lem; lại sanh thêm cho người những con trai con gái khác.
14Eia na inoa o ka poe i hanau nana ma Ierusalema, o Samua, o Sobaba, o Natana, a o Solomona,
14Nầy là tên các con trai sanh cho người tại thành Giê-ru-sa-lem: Sa-mua, Sô-báp, Na-than, Sa-lô-môn,
15O Ibehana hoi me Elisua, o Nepega a me Iapia,
15Di-ba, Ê-li-sua, Nê-phéc, Gia-phia,
16O Elisama, o Eliada, a me Elipaleta.
16Ê-li-sa-ma, Ê-li-gia-đa, và Ê-li-phê-lết.
17A lohe ae la ka poe Pilisetia, ua poni iho lakou ia Davida i alii maluna o ka Iseraela; pii nui mai la na Pilisetia a pau e imi ia Davida; a lohe ae la Davida, a iho iho la ia ma ka pakaua.
17Khi dân Phi-li-tin biết Đa-vít đã chịu xức dầu làm vua Y-sơ-ra-ên rồi, thì kéo ra đặng đánh người. Đa-vít hay điều đó, bèn đi đến đồn.
18Hele mai la hoi ka poe Pilisetia, a hoomoana aku la ma ke awawa o Repaima.
18Dân Phi-li-tin đi đến bủa ra trong trũng Rê-pha-im.
19Ninau aku la o Davida ia Iehova, i aku la, E pii aku anei au i ka poe Pilisetia? E hoolilo mai hoi oe ia lakou i kuu lima? I mai la o Iehova ia Davida, E pii aku oe, no ka mea, e oiaio no e noolilo au i ka poe Pilisetia i kou lima.
19Bấy giờ, Đa-vít cầu vấn Đức Giê-hô-va, mà rằng: Tôi phải lên đánh dân Phi-li-tin chăng? Ngài sẽ phó vào tay tôi chăng? Đức Giê-hô-va đáp cùng Đa-vít rằng: Hãy đi lên, vì hẳn ta sẽ phó dân Phi-li-tin vào tay ngươi.
20Hele aku la o Davida i Baala-perazima, a luku aku la o Davida ia lakou malaila, i iho la ia, Ua poha aku o Iehova maluna o ko'u poe enemi, e like me ka poha ana o ka wai. Nolaila, kapa aku la ia i ka inoa o ia wahi, o Baala-perazima.
20Vậy, Đa-vít kéo đến Ba-anh-Phê-rát-sim, là nơi người đánh dân đó; và người nói rằng: Đức Giê-hô-va đã đánh vỡ các kẻ thù nghịch tôi khỏi trước mặt tôi khác nào nước chảy. Bởi cớ đó, người đặt tên chỗ nầy là Ba-anh-Phê-rát-sim.
21Haalele lakou i na kii o lakou ilaila, a lawe aku la o Davida a me na kanaka ona ia mau mea.
21Dân Phi-li-tin bỏ lại các thần tượng của chúng nó tại đó; Đa-vít và thủ hạ người lấy đem đi.
22Pii hou mai la ka poe Pilisetia, a hoomoana iho la ma ke awawa o Repaima.
22Dân Phi-li-tin trở lại lần thứ nhì, và bủa ra trong trũng Rê-pha-im.
23A ninau aku la o Davida ia Iehova, i mai la kela, Aole oe e pii pono aku; aka, e hoopuni ae oe mahope mai o lakou, i kahi e kupono ana i na laau silika.
23Đa-vít cầu vấn Đức Giê-hô-va, Ngài đáp rằng: Ngươi chớ đi lên; hãy đi vòng phía sau chúng nó, rồi ngươi sẽ tới chúng nó về hướng cây dâu.
24A lohe oe i ka halulu o ka hele ana ma na welau o na laau silika, alaila oe e lalelale: no ka mea, alaila e hele aku ana o Iehova imua ou e pepehi aku i na Pilisetia.
24Và khi nào ngươi nghe tiếng bước trên ngọn cây dâu, bấy giờ hãy lật đật xông tới, vì chính trong lúc đó, Đức Giê-hô-va sẽ đi trước ngươi đặng hãm đánh đạo quân Phi-li-tin.
25Hana aku la o Davida e like me ka Iehova i kauoha mai ai ia ia; a luku aku la ia i na Pilisetia mai Geba aku a hiki aku oe i Gazera.
25Đa-vít làm mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán đặn người; người đánh đuổi dân Phi-li-tin từ Ghê-ba cho đến Ghê-xe.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.