Псальма 74
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Наука Асафова. Для чого відкинув єси нас, Боже, на віки, палає гнїв твій на стадо пасовиска твого?
1Đức Chúa Trời ôi! vì sao Chúa bỏ chúng tôi luôn luôn? Nhân sao cơn giận Chúa nổi phừng cùng bầy chiên của đồng cỏ Chúa?
2Спогадай твою громаду, що зєднав її оддавна, — ізбавив, як твоє наслїддє, тую гору Сион, на котрій ти осївся!
2Xin hãy nhớ lại hội Chúa mà Chúa đã được khi xưa, Và chuộc lại đặng làm phần cơ nghiệp của Chúa; Cũng hãy nhớ luôn núi Si-ôn, là nơi Chúa đã ở.
3Зверни стопи твої до недавньої руїни! Все у сьвятинї зруйнував ворог.
3Cầu xin Chúa đưa bước đến các nơi hư nát đời đời: Kẻ thù nghịch đã phá tan hết trong nơi thánh.
4Рикають вороги твої серед зборів твоїх; поставили знаки свої як знамена.
4Các cừu địch Chúa đã gầm hét giữa hội Chúa; Chúng nó dựng cờ chúng nó để làm dấu hiệu.
5Вони, як той, що сокирою замахнув в гущавинї лїса,
5Chúng nó giống như kẻ giơ rìu lên Trong đám rừng rậm kia.
6І тепер вони топором і молотами розбивають різьбу його.
6Bây giờ chúng nó dùng rìu và búa Đập bể hết thảy vật chạm-trổ.
7З пожаром пустили сьвятиню твою, осквернили дім імені твого.
7Chúng nó đã lấy lửa đốt nơi thánh Chúa, Làm cho chỗ danh Chúa ở ra phàm đến đất.
8Сказали в серцї своїм: Нуте, винищимо їх до ноги! — Пустили з димом всї Божі собори на землї.
8Chúng nó nói trong lòng rằng: Chúng ta hãy hủy phá chung cả hết thảy đi. Chúng nó đã đốt các nhà hội của Đức Chúa Trời trong xứ.
9Знамен наших ми не бачимо: нема більш пророка, й нема між нами, хто б знав, доки так буде.
9Chúng tôi chẳng còn thấy các ngọn cờ chúng tôi; Không còn đấng tiên tri nữa, Và giữa chúng tôi cũng chẳng có ai biết đến chừng nào.
10Доки, Боже, буде ругатись гнобитель? Чи вічно буде ворог зневажати імя твоє?
10Đức Chúa Trời ôi! kẻ cừu địch sẽ nói sỉ nhục cho đến chừng nào? Kẻ thù nghịch há sẽ phạm danh Chúa hoài sao?
11Чому здержуєш руку твою і правицю твою? Із лона твого допусти конець!
11Sao Chúa rứt tay lại, tức là tay hữu Chúa? Khá rút nó ra khỏi lòng, và tiêu diệt chúng nó đi!
12Бог царь мій з поконвіку, що дає спасеннє на землї.
12Dầu vậy, Đức Chúa Trời là Vua tôi từ xưa, Vẫn làm sự cứu rỗi trên khắp trái đất.
13Ти роздїлив море силою твоєю, розбив голови змиїв морських.
13Chúa đã dùng quyền năng Chúa mà rẽ biển ra, Bẻ gãy đầu quái vật trong nước.
14Ти потрощив голову левіятана, дав його на поживу людям в пустинї.
14Chúa chà nát đầu lê-vi-a-than, Ban nó làm thực vật cho dân ở đồng vắng.
15Ти вітворив жерела і потоки; ти висушив прудисті ріки.
15Chúa khiến suối và khe phun nước, Và làm cho khô các sông lớn.
16І день твій і ніч твоя; ти сотворив сьвітло і сонце.
16Ngày thuộc về Chúa, đêm cũng vậy; Chúa đã sắm sửa mặt trăng và mặt trời.
17Ти утвердив всї гряницї землї; ти постановив лїто і зиму.
17Chúa đã đặt các bờ cõi của đất, Và làm nên mùa hè và mùa đông.
18Спогадай се: ворог поругав Господа, а народ безумний зневажив імя твоє.
18Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nhớ rằng kẻ thù nghịch đã sỉ nhục, Và một dân ngu dại đã phạm đến danh Ngài.
19Не попусти зьвірюцї душу горлицї твоєї, не забудь на віки громаду нужденних твоїх.
19Xin chớ phó cho thú dữ linh hồn bò câu đất của Chúa; Cũng đừng quên hoài kẻ khốn cùng của Chúa.
20Спогадай завіт! Бо темні закутки землї наповнились домівками насильства.
20Xin Chúa đoái đến sự giao ước; Vì các nơi tối tăm của đất đều đầy dẫy sự hung bạo.
21Нехай не вернеться з соромом пригноблений! Нужденний і бідний нехай возхвалять імя твоє.
21Nguyện kẻ bị hà hiếp chớ trở về hổ thẹn; Nguyện kẻ khốn cùng và người thiếu thốn ngợi khen danh Chúa.
22Встань, Боже, суди справу твою! Спогадай щоденне руганнє беззаконного!
22Hỡi Đức Chúa Trời, hãy chỗi dậy, binh vực duyên cớ Chúa. Hãy nhớ lại thể nào kẻ ngu dại hằng ngày sỉ nhục Chúa.
23Не забудь крику ворогів твоїх! Буяннє тих, що проти тебе встали, не має кінця.
23Xin chớ quên tiếng kẻ cừu địch Chúa: Sự ồn ào của kẻ dấy nghịch cùng Chúa thấu lên không ngớt.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.