Псальма 88
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Пісня, псальма, для синів Корея; проводиреві хора, під Махалят Леанот; на науку; від Емана Езрагітського. Господи, Боже мій спасителю! В день і в ночі благаю тебе.
1Hỡi Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi tôi. Ngày và đêm tôi kêu cầu trước mặt Chúa.
2Нехай дійде до тебе молитва моя! Приклони ухо твоє до мого благання!
2Nguyện lời cầu nguyện tôi thấu đến trước mặt Chúa; Xin hãy nghiêng tai qua nghe tiếng kêu cầu của tôi.
3Бо душа моя сита від муки, і життє моє близько коло пропастї підземної.
3Vì linh hồn tôi đầy dẫy sự hoạn nạn, Mạng sống tôi hầu gần âm phủ.
4Залїчено мене до тих, що йти мають в домовину; я став як чоловік, що сили не має;
4Tôi bị kể vào số những kẻ đi xuống huyệt; Tôi khác nào một người chẳng có ai giúp đỡ,
5Моє місце між мерцями, я наче ті вбиті, що лежать в домовинї, про котрих ти не згадуєш більше, і котрі далеко від руки твоєї.
5Bị bỏ giữa kẻ chết, Giống như những kẻ bị giết nằm trong mồ mả, Mà Chúa không còn nhớ đến, Là kẻ bị truất khỏi tay Chúa.
6Ти кинув мене в глибоку яму, в тьму, в безодню.
6Chúa đã để tôi nằm nơi hầm cực sâu, Tại chốn tối tăm trong vực thẳm.
7Гнїв твій лежить тягарем на менї, всїма филями твоїми ти звалив мене.
7Cơn giận Chúa đè nặng trên tôi, Chúa dùng các lượn sóng Chúa làm tôi cực nhọc.
8Ти віддалив знакомих моїх від мене, зробив мене огидою для них; я в неволї і не можу вийти з неї.
8Chúa khiến những kẻ quen biết tôi lìa xa tôi, Làm tôi thành một vật gớm ghiếc cho họ; Tôi bị cấm cố, không ra được.
9Очі мої знемоглись від горя; до тебе, Господи, кликав я що дня, до тебе простирав руки мої.
9Mắt tôi hao mòn vì hoạn nạn; Đức Giê-hô-va ơi, hằng ngày tôi cầu khẩn Ngài, Và giơ tay lên hướng cùng Ngài.
10Хиба на мерцях сотвориш чудо? Хиба померші встануть і прославлять тебе?
10Chúa há vì kẻ chết mà sẽ làm phép lạ sao? Những kẻ qua đời há sẽ chỗi dậy đặng ngợi khen Chúa ư?
11Хиба звіщати муть милість твою в могилї, в місцї зотлїння вірність твою?
11Sự nhân từ Chúa há sẽ được truyền ra trong mồ mả sao? Hoặc sự thành tín Chúa được giảng trong vực sâu ư?
12Хиба пізнають в темряві чудеса твої і справедливість твою в землї забуття?
12Các phép lạ Chúa há sẽ được biết trong nơi tối tăm sao? Và sự công bình Chúa há sẽ được rõ trong xứ bị bỏ quên ư?
13Я ж, Господи, благаю тебе, і вранцї зустрічає тебе молитва моя.
13Còn tôi, Đức Giê-hô-va ơi, tôi kêu cầu cùng Ngài; Vừa sáng lời cầu nguyện tôi sẽ thấu đến trước mặt Ngài.
14Чого, Господи, покидаєш душу мою, одвертаєш лице твоє від мене?
14Đức Giê-hô-va ôi! vì sao Ngài từ bỏ linh hồn tôi, Và giấu mặt Ngài cùng tôi?
15Почавши з малку, горюю я й занепадаю; переносючи страшні допусти твої, вже здеревенїв я.
15Tôi bị hoạn nạn hòng chết từ buổi thơ ấu; Tôi mang sự kinh khiếp Chúa, và bị hoảng hồn.
16Поломя гнїву твого пронеслось надо мною, страшні допусти твої знищили мене.
16Sự giận dữ Chúa trôi trác tôi, Sự hãi hùng Chúa đã trừ diệt tôi.
17Обгортали мене, як води, цїлий день, всї вони обступили мене.
17Hằng ngày các điều ấy vây quanh tôi như nước, Cùng nhau bao phủ tôi.
18Віддалив єси від мене друга й товариша; моїх знакомих. — Темрява.
18Chúa khiến các bậu bạn lìa xa tôi, Cũng đã làm kẻ quen biết tôi ẩn nơi tối tăm.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.