Псальма
Chapter 104
Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Псальма 104

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Благослови Господа, душе моя! Господи, Боже мій, дивно ти великий, ти зодягнувся величчєм і красою;
1Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ k”. Mặc sự sang trọng và oai nghi!
2Ти сьвітлом, як шатою, покрився, розіпняв небеса, як плахту наметну;
2Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng khác nào bằng cái áo, Giương các từng trời ra như cái trại.
3Поставив двори свої над водами, обертаєш хмари на колесницю для себе, ти несешся на крилах вітру;
3Ngài chấp các đòn tay của phòng cao Ngài trong các nước, Dùng mây làm xe Ngài, Và đi bước trên cánh gió.
4Ангели твої в тебе послами, слуги твої — огонь пожираючий.
4Ngài dùng gió làm sứ Ngài, Ngọn lửa làm tôi tớ Ngài.
5Він утвердив землю на підвалинах її; вона не захитається по віки;
5Ngài sáng lập đất trên các nền nó; Đất sẽ không bị rúng động đến đời đời.
6Безоднями покрив її, як одежою, води стояли понад горами.
6Chúa lấy vực sâu bao phủ đất như bằng cái áo, Nước thì cao hơn các núi.
7Перед грозою твоєю погнались, перед голосом грому твого помчались далеко.
7Chúa hăm dọa, nước bèn giựt lại; Nghe tiếng sấm Chúa, nước lật đật chạy trốn.
8Гори піднялися, долини спустились до місця, котре призначив для них.
8Núi lố lên, trũng sụp sâu xuống chốn mà Chúa đã định cho nó.
9Визначив їм гряницю, і не перейдуть її; не вернуться назад, покрити землю.
9Chúa định chân cho nước để nước không hề qua khỏi, Không còn trở lại ngập đất nữa.
10Із жерел посилаєш у долини потоки: шумлять вони проміж горами;
10Ngài khiến các suối phun ra trong trũng, Nó chảy giữa các núi.
11Напувають всю зьвірину з поля; дикі ослята гасять смагу свою;
11Nhờ các suối ấy hết thảy loài thú đồng được uống; Các lừa rừng giải khát tại đó.
12Над ними кублиться небесне птаство, між віттєм голос їх роздається.
12Chim trời đều ở bên các suối ấy, Trổi tiếng nó giữa nhánh cây.
13Ти напуваєш гори з висоти твоєї; земля насичується плодом творива твого.
13Từ phòng cao mình, Ngài tưới các núi; Đất được đầy dẫy bông trái về công việc Ngài.
14Ти кажеш рости траві для скота і зеленинї на вжиток людям: щоб хлїба достачити із землї,
14Ngài làm cho cỏ đâm lên cho súc vật, Cây cối để dùng cho loài người, Và khiến thực vật sanh ra từ nơi đất.
15І вино, щоб веселило серце чоловіка; щоб міг оливою лице намастити, і щоб хлїб покріпив серце чоловіка.
15Rượu nho, là vật khiến hứng chí loài người, Và dầu để dùng làm mặt mày sáng rỡ, Cùng bánh để thêm sức cho lòng loài người.
16Насичаються дерева Божі, кедри Ливанські, що посадив їх,
16Cây cối Đức Giê-hô-va được đầy mủ nhựa, Tức là cây hương nam tại Li-ban mà Ngài đã trồng,
17На них гнїздиться птаство; на кипарисах бузько знайшов собі домівку.
17Là nơi loài chim đóng ổ nó; Còn con cò, nó dùng cây tùng làm chỗ ở của nó.
18Високі гори для козлів диких, скелї — сховиско лисицям.
18Các núi cao là nơi ở của dê rừng; Hòn đá là chỗ ẩn núp của chuột đồng.
19Він сотворив місяць, щоб часи значити; сонце знає, коли заходити.
19Ngài đã làm nên mặt trăng để chỉ thì tiết; Mặt trời biết giờ lặn.
20Ти розкинеш темряву, і ніч настала; тодї ворушиться вся зьвірина лїсна;
20Chúa làm sự tối tăm, và đêm bèn đến; Khi ấy các thú rừng đi ra;
21Молоді леви ричать за здобичею, і щоб жадати поживи для себе від Бога.
21Những sư tử tơ gầm hét về miếng mồi, Và cầu xin Đức Chúa Trời đồ ăn chúng nó.
22Зійде сонце, вони вертають назад і в своїх норах лягають.
22Mặt trời mọc lên, chúng nó bèn rút về, Nằm trong hang chúng nó.
23Чоловік виходить до свого дїла, і до своєї працї аж до вечора.
23Bấy giờ loài người đi ra, đến công việc mình, Và làm cho đến chiều tối.
24Як багато, Господи, творива твого! Все премудростю сотворив єси, земля повна багацтва твого.
24Hỡi Đức Giê-hô-va, công việc Ngài nhiều biết bao! Ngài đã làm hết thảy cách khôn ngoan; Trái đất đầy dẫy tài sản Ngài.
25Те море, велике і на всї сторони широке: там ворушиться безлїч зьвірини, малої і великої.
25Còn biển lớn và rộng mọi bề nầy! ỳ đó sanh động vô số loài vật nhỏ và lớn.
26Там судна дорогу верстають, за ними кит, котрого сотворив єси, щоб там побивався.
26Tại đó tàu thuyền đi qua lại, Cũng có lê-vi-a-than mà Chúa đã nắn nên đặng giỡn chơi nơi đó.
27Всї вони тебе дожидають, щоб їжу їх у свій час дав їм.
27Hết thảy loài vật nầy trông đợi Chúa, Hầu cho Chúa ban đồ ăn cho chúng nó theo giờ.
28Ти даєш їм, вони збирають; ти відчиняєш руку твою, вони добром насичаються.
28Chúa ban cho chúng nó, chúng nó nhận lấy; Chúa sè tay ra, chúng nó được no nê vật tốt.
29Ти одвертаєш лице твоє, вони лякаються; возьмеш духи їх, вони, визївнувши, у порох повертаються.
29Chúa giấu mặt, chúng nó bèn bối rối, Chúa lấy hơi thở chúng nó lại, chúng nó bèn tắt chết, và trở về bụi đất.
30Пішлеш твого духа, будуть сотворені, та й обновиш лице землї.
30Chúa sai Thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên; Chúa làm cho mặt đất ra mới.
31Слава Господня буде по віки, Господь буде радїти творивом своїм;
31Nguyện sự vinh hiển Đức Giê-hô-va còn đến mãi mãi; Nguyện Đức Giê-hô-va vui vẻ về công việc Ngài.
32Він погляне на землю, і вона тремтить; доторкнеться гір, і вони димують.
32Ngài nhìn đất, đất bèn rúng động; Ngài rờ đến núi, núi bèn lên khói.
33Сьпівати му Господеві, поки життя мого, сьпівати му псальми Богові мому, як довго життя стане.
33Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu; Hễ tôi còn chừng nào, tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy.
34Нехай буде люба йому думка моя, і звеселюся в Господї.
34Nguyện sự suy gẫm tôi đẹp lòng Ngài; Tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va.
35Нехай счезнуть грішники із землї, і беззаконних нехай не буде. Благослови, душе моя, Господа! Аллилуя!
35Nguyện tội nhân bị diệt mất khỏi đất, Và kẻ ác chẳng còn nữa. Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.