Salmi
Chapter 104
Diodati Bibbia 1885
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Salmi 104

Diodati Bibbia 1885
Vietnamese Bible (1923 translation)
1BENEDICI, anima mia, il Signore; O Signore Iddio mio, tu sei sommamente grande; Tu sei vestito di gloria e di magnificenza.
1Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, Chúa thật lớn lạ k”. Mặc sự sang trọng và oai nghi!
2Egli si ammanta di luce come di una vesta; Egli tende il cielo come una cortina.
2Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng khác nào bằng cái áo, Giương các từng trời ra như cái trại.
3Egli fa i palchi delle sue sale nelle acque; Egli pone le nuvole per suo carro: Egli passeggia sopra le ale del vento.
3Ngài chấp các đòn tay của phòng cao Ngài trong các nước, Dùng mây làm xe Ngài, Và đi bước trên cánh gió.
4Egli fa i venti suoi Angeli, E il fuoco divampante suoi ministri.
4Ngài dùng gió làm sứ Ngài, Ngọn lửa làm tôi tớ Ngài.
5Egli ha fondata la terra sulle sue basi; Giammai in perpetuo non sarà smossa.
5Ngài sáng lập đất trên các nền nó; Đất sẽ không bị rúng động đến đời đời.
6Tu l'avevi già coperta dell'abisso, come d'una vesta; Le acque si erano fermate sopra i monti.
6Chúa lấy vực sâu bao phủ đất như bằng cái áo, Nước thì cao hơn các núi.
7Esse fuggirono per lo tuo sgridare; Si affrettarono per la voce del tuo tuono;
7Chúa hăm dọa, nước bèn giựt lại; Nghe tiếng sấm Chúa, nước lật đật chạy trốn.
8Erano salite sopra i monti; ma discesero nelle valli, Al luogo che tu hai loro costituito.
8Núi lố lên, trũng sụp sâu xuống chốn mà Chúa đã định cho nó.
9Tu hai loro posto un termine, il qual non trapasseranno; E non torneranno a coprir la terra.
9Chúa định chân cho nước để nước không hề qua khỏi, Không còn trở lại ngập đất nữa.
10Egli è quel che manda le fonti per le valli, Onde esse corrono fra i monti;
10Ngài khiến các suối phun ra trong trũng, Nó chảy giữa các núi.
11Abbeverano tutte le bestie della campagna; Gli asini salvatichi spengono la lor sete con esse .
11Nhờ các suối ấy hết thảy loài thú đồng được uống; Các lừa rừng giải khát tại đó.
12Presso a quelle si riparano gli uccelli del cielo; Fanno sentir di mezzo alle frondi le lor voci.
12Chim trời đều ở bên các suối ấy, Trổi tiếng nó giữa nhánh cây.
13Egli adacqua i monti dalle sue stanze sovrane; La terra è saziata del frutto delle sue opere.
13Từ phòng cao mình, Ngài tưới các núi; Đất được đầy dẫy bông trái về công việc Ngài.
14Egli fa germogliar l'erba per le bestie; E l'erbaggio per lo servigio dell'uomo, Facendo uscire della terra il pane.
14Ngài làm cho cỏ đâm lên cho súc vật, Cây cối để dùng cho loài người, Và khiến thực vật sanh ra từ nơi đất.
15Egli rallegra il cuor dell'uomo col vino, Egli fa risplender la faccia coll'olio, E sostenta il cuor dell'uomo col pane.
15Rượu nho, là vật khiến hứng chí loài người, Và dầu để dùng làm mặt mày sáng rỡ, Cùng bánh để thêm sức cho lòng loài người.
16Gli alberi del Signore ne son saziati; I cedri del Libano ch'egli ha piantati;
16Cây cối Đức Giê-hô-va được đầy mủ nhựa, Tức là cây hương nam tại Li-ban mà Ngài đã trồng,
17Dove gli uccelli si annidano; Gli abeti, che son la stanza della cicogna.
17Là nơi loài chim đóng ổ nó; Còn con cò, nó dùng cây tùng làm chỗ ở của nó.
18Gli alti monti sono per li cavriuoli; Le rocce sono il ricetto de' conigli.
18Các núi cao là nơi ở của dê rừng; Hòn đá là chỗ ẩn núp của chuột đồng.
19Egli ha fatta la luna per le stagioni; Il sole conosce il suo occaso.
19Ngài đã làm nên mặt trăng để chỉ thì tiết; Mặt trời biết giờ lặn.
20Tu mandi le tenebre, ed e' si fa notte, Nella quale tutte le fiere delle selve vanno attorno.
20Chúa làm sự tối tăm, và đêm bèn đến; Khi ấy các thú rừng đi ra;
21I leoncelli rugghiano dietro alla preda, E per chiedere a Dio il lor pasto.
21Những sư tử tơ gầm hét về miếng mồi, Và cầu xin Đức Chúa Trời đồ ăn chúng nó.
22Ma, tosto ch 'è levato il sole, si raccolgono, E giacciono ne' lor ricetti.
22Mặt trời mọc lên, chúng nó bèn rút về, Nằm trong hang chúng nó.
23Allora l'uomo esce alla sua opera, Ed al suo lavoro, infino alla sera.
23Bấy giờ loài người đi ra, đến công việc mình, Và làm cho đến chiều tối.
24Quanto grandi sono, o Signore, le tue opere! Tu le hai tutte fatte con sapienza; La terra è piena de' tuoi beni.
24Hỡi Đức Giê-hô-va, công việc Ngài nhiều biết bao! Ngài đã làm hết thảy cách khôn ngoan; Trái đất đầy dẫy tài sản Ngài.
25Ecco, il mar grande ed ampio: Quivi son rettili senza numero, Amimali piccoli e grandi.
25Còn biển lớn và rộng mọi bề nầy! ỳ đó sanh động vô số loài vật nhỏ và lớn.
26Quivi nuotano le navi, E il Leviatan che tu hai formato per ischerzare in esso.
26Tại đó tàu thuyền đi qua lại, Cũng có lê-vi-a-than mà Chúa đã nắn nên đặng giỡn chơi nơi đó.
27Tutti gli animali sperano in te, Che tu dii loro il lor cibo al suo tempo.
27Hết thảy loài vật nầy trông đợi Chúa, Hầu cho Chúa ban đồ ăn cho chúng nó theo giờ.
28Se tu lo dài loro, lo ricolgono; Se tu apri la tua mano, son saziati di beni.
28Chúa ban cho chúng nó, chúng nó nhận lấy; Chúa sè tay ra, chúng nó được no nê vật tốt.
29Se tu nascondi la tua faccia, sono smarriti; Se tu ritiri il fiato loro, trapassano, E ritornano nella lor polvere.
29Chúa giấu mặt, chúng nó bèn bối rối, Chúa lấy hơi thở chúng nó lại, chúng nó bèn tắt chết, và trở về bụi đất.
30Se tu rimandi il tuo spirito son creati; E tu rinnuovi la faccia della terra.
30Chúa sai Thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên; Chúa làm cho mặt đất ra mới.
31Sia la gloria del Signore in eterno; Rallegrisi il Signore nelle sue opere;
31Nguyện sự vinh hiển Đức Giê-hô-va còn đến mãi mãi; Nguyện Đức Giê-hô-va vui vẻ về công việc Ngài.
32Il quale se riguarda verso la terra, ella trema; Se tocca i monti, essi fumano.
32Ngài nhìn đất, đất bèn rúng động; Ngài rờ đến núi, núi bèn lên khói.
33Io canterò al Signore, mentre viverò; Io salmeggerò all'Iddio mio, tanto che io durerò.
33Hễ tôi sống bao lâu, tôi sẽ hát xướng cho Đức Giê-hô-va bấy lâu; Hễ tôi còn chừng nào, tôi sẽ hát ngợi khen Đức Chúa Trời tôi chừng nấy.
34Il mio ragionamento gli sarà piacevole, Io mi rallegrerò nel Signore.
34Nguyện sự suy gẫm tôi đẹp lòng Ngài; Tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va.
35Vengano meno i peccatori d'in su la terra, E gli empi non sieno più. Anima mia, benedici il Signore. Alleluia.
35Nguyện tội nhân bị diệt mất khỏi đất, Và kẻ ác chẳng còn nữa. Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.