Псальма 35
Kulish and Puluj Bible (1905)Translation
Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Давидова. Суди, Господи, тих, що зобіжають мене, побори тих, що йдуть боєм на мене.
1Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy cãi cọ cùng kẻ cãi cọ tôi, Hãy chinh chiến với kẻ chinh chiến cùng tôi.
2Возьми щит і зброю, і стань до помочі менї!
2Xin hãy cầm lấy khiên nhỏ và lớn, Chổi-dậy đặng giúp đỡ tôi.
3Вийми меча, і загороди дорогу перед напастником моїм; скажи душі моїй: я твоє спасеннє!
3Xin hãy rút giáo, cản đường kẻ nào rượt theo tôi; Hãy nói cùng linh hồn tôi: Ta là sự cứu rỗi ngươi.
4Нехай осоромляться ті, що наважили на життє моє; нехай відступлять назад ті, що задумали зло проти мене!
4Nguyện kẻ tìm giết mạng sống tôi phải bị hổ thẹn và sỉ nhục; Ước gì kẻ toan hại tôi phải lui lại, và bị mất cỡ.
5Нехай вони будуть, як полова перед вітром, і ангел Господнїй нехай прожене їх.
5Nguyện chúng nó như trấu bị gió thổi đùa, Cầu xin thiên sứ Đức Giê-hô-va đuổi chúng nó đi!
6Дорога їх нехай буде темна й ховзка, і ангел Господнїй нехай на здогін наступає на них.
6Nguyện đường chúng nó phải tối mịt và trơn trợt, Cầu thiên sứ Đức Giê-hô-va đuổi theo chúng nó!
7Без причини бо заставили тайно сїти свої на мене, без вини викопали яму для душі моєї.
7Vì vô cớ chúng nó gài kín lưới cho tôi, Và vô cớ đào một cái hầm cho linh hồn tôi.
8Нехай погибель спогонить його, щоб і не стямивсь, коли, — і сїтка його, котру заставив тайно, нехай зловить його; нехай він впаде до неї на погибель.
8Nguyện tai họa không ngờ đến hãm áp nó, Ước gì lưới nó gài kín bắt lại nó; Nguyện nó sa vào đó, và bị diệt đi.
9А душа моя зрадується в Господї, і звеселиться від його спасення!
9Linh hồn tôi sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va, Mừng rỡ về sự cứu rỗi của Ngài.
10Всї костї мої скажуть: Господи! Хто рівня тобі? Тобі, що вирятував бідного від того, хто сильнїйший як він; мізерного і бідолашного від грабителя його!
10Các xương cốt tôi sẽ nói: Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài giải cứu người khốn cùng khỏi kẻ mạnh hơn người, Cứu người khốn cùng và kẻ thiếu thốn khỏi đứa cướp lột: Vậy, có ai giống như Ngài chăng?
11Встають несправедливі сьвідки, допитують в мене, про що я не знаю.
11Những chứng gian dấy lên, Tra hỏi những việc tôi không biết đến.
12Добро віддячують менї злом; осиротїла душа моя.
12Chúng nó lấy dữ trả lành; Linh hồn tôi bị bỏ xuội.
13А я, коли вони нездужали, надягав волосїнну плахту, смиряв постом душу і молитва моя верталась до грудї моєї;
13Còn tôi, khi chúng nó đau, tôi bèn mặc lấy bao, Kiêng ăn ép linh hồn tôi, Lời cầu nguyện tôi trở vào ngực tôi.
14Як для друга або брата, так я побивався; як за матїрю падкуючи, так я в журбі хилився.
14Tôi cư xử dường như là bạn hữu hay là anh em tôi; Tôi buồn đi cúi xuống như kẻ than khóc mẹ mình.
15Коли ж я кульгаю, вони втїшаються, зібравшись; злоріки зібрались проти мене, і я не знав про них; вони озьвірились на мене, і нема їм впину.
15Nhưng trong lúc tôi bị gian nan, chúng nó bèn nhóm lại vui mừng; Những kẻ cáo gian đều nhóm lại nghịch cùng tôi, song tôi chẳng biết; Chúng nó cấu xé tôi không ngừng.
16Вкупі з мерзенними брехунами скреготали вони зубами.
16Chúng nó nghiến răng nghịch tôi Với những kẻ ác tệ hay nhạo báng.
17Господи, як довго будеш придивлятись? Верни душу мою з спустошення їх, від левчуків одинокую мою!
17Chúa ôi! Chúa chịu xem điều ấy cho đến chừng nào? Xin hãy cứu vớt linh hồn tôi khỏi sự phá tan của chúng nó, Và rút mạng sống tôi khỏi sư tử.
18Буду прославляти тебе перед великим збором, величати проміж громадним людом.
18Tôi sẽ cảm tạ Chúa trong hội lớn, Ngợi khen Ngài giữa dân đông.
19Не допусти, щоб втїшались надо мною ті, що ворогують на мене без причини, щоб прижмурювали очі ті, що ненавидять мене безвинно.
19Cầu xin chớ cho những kẻ làm thù nghịch tôi vô cớ mừng rỡ về tôi; Cũng đừng để các kẻ ghét tôi vô cớ nheo con mắt.
20Бо не про супокій говорять вони; і проти тихих в країнї зрада в них на думцї.
20Vì chúng nó chẳng nói lời hòa bình; Nhưng toan phỉnh gạt các người hiền hòa trong xứ.
21І проти мене роззявили вони пельки свої, покликуючи: Ого! Ого! видїли очі наші!
21Chúng nó hả miệng hoát ra nghịch tôi, Mà rằng: Ha, ha! mắt ta đã thấy điều đó rồi
22Ти бачив, Господи, не мовчи! Господи, будь недалеко від мене!
22Đức Giê-hô-va ôi! Ngài đã thấy điều ấy, xin chớ làm thinh: Chúa ôi! chớ dan xa tôi.
23Встань, і спогадай правду мою, Господи, Боже мій! Явись на правуваннє моє!
23Hỡi Đức Chúa Trời là Chúa tôi, hãy tỉnh thức, hãy chổi dậy, để phán xét tôi công bình, Và binh vực duyên cớ tôi.
24Признай менї правду по справедливостї твоїй, Господи, Боже мій! Не дай їм втїшатись надо мною.
24Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, hãy đoán xét tôi tùy sự công bình của Chúa; Chớ để chúng nó vui mừng vì cớ tôi.
25Нехай не скажуть в серцї своїм: От, того й ми бажали! Не дай їм сказати: ми його заїли!
25Chớ để chúng nó nói trong lòng rằng: ĩ! kìa, điều chúng ta ước ao đó; hoặc nói rằng: chúng ta đã nuốt trọn nó rồi.
26Нехай повстидаються і осоромляться всї, хто втїшається з мого нещастя! Нехай окриються ганьбою і соромом ті, що вихваляються проти мене.
26Phàm kẻ nào vui mừng về sự tai họa tôi, Nguyện họ đều bị hổ thẹn và mất cỡ; Phàm người nào dấy lên cùng tôi cách kiêu ngạo, Nguyện họ đều bị bao phủ xấu hổ và sỉ nhục.
27Нехай радуються і веселяться ті, що любуються правдою моєю, і най завсїди кажуть: Великий Господь, що любується спокоєм слуги свого.
27Còn ai binh duyên cớ công bình tôi, Nguyện họ đều reo mừng; Nguyện họ thường nói không ngớt: Đáng tôn trọng Đức Giê-hô-va thay! Là Đấng vui cho tôi tớ Ngài được may mắn.
28І язик мій звіщати ме про справедливість твою, про хвалу твою цїлий день.
28Vậy, lưỡi tôi sẽ thuật sự công bình Chúa, Và trọn ngày ngợi khen Chúa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.