Saam 74
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Aw Sithaw, tipongah dungzan khoek to nang pahnawt loe? Tipongah nangmah ih caphoih ahmuen ah kapra tuunawk nuiah palung na phui loe?
1Đức Chúa Trời ôi! vì sao Chúa bỏ chúng tôi luôn luôn? Nhân sao cơn giận Chúa nổi phừng cùng bầy chiên của đồng cỏ Chúa?
2Canghnii hoiah na qan ih kaminawk, na qawktoep acaengnawk hoi na ohhaih Zion mae to poek ah.
2Xin hãy nhớ lại hội Chúa mà Chúa đã được khi xưa, Và chuộc lại đặng làm phần cơ nghiệp của Chúa; Cũng hãy nhớ luôn núi Si-ôn, là nơi Chúa đã ở.
3Kaciim ahmuen to misanawk mah paro o boih boeh pongah, dungzan ah kamro ahmuen ah na khok to paqoi lai ah.
3Cầu xin Chúa đưa bước đến các nơi hư nát đời đời: Kẻ thù nghịch đã phá tan hết trong nơi thánh.
4Na misanawk loe nangmah ih kaminawk salakah hang o; nihcae loe angmacae angmathaih kahni to payang o.
4Các cừu địch Chúa đã gầm hét giữa hội Chúa; Chúng nó dựng cờ chúng nó để làm dấu hiệu.
5Nihcae loe caka hoi tu thung ih thing pakhruh kaminawk baktiah oh o.
5Chúng nó giống như kẻ giơ rìu lên Trong đám rừng rậm kia.
6Toe vaihi loe sak ih hmuennawk to caki hoi cakanawk hoiah a saek o boih boeh.
6Bây giờ chúng nó dùng rìu và búa Đập bể hết thảy vật chạm-trổ.
7Na hmuenciim to hmai hoiah a thlaek o boeh; na hmin ohhaih ahmuen doeh long ah vah o moe, panuet thok ah a sak o boeh.
7Chúng nó đã lấy lửa đốt nơi thánh Chúa, Làm cho chỗ danh Chúa ở ra phàm đến đất.
8Nihcae mah, Hae kaminawk hae paduek boih si, tiah thuih o moe, prae thung ih Sithaw bokhaih ahmuennawk to hmai hoiah thlaek o boih boeh.
8Chúng nó nói trong lòng rằng: Chúng ta hãy hủy phá chung cả hết thảy đi. Chúng nó đã đốt các nhà hội của Đức Chúa Trời trong xứ.
9Kaicae loe kaimacae angmathaih tidoeh ka hnu o ai; tahmaanawk doeh om o ai boeh; nasetto maw hae tiah om vop tih, tiah panoek kami kaicae thungah mi doeh om ai.
9Chúng tôi chẳng còn thấy các ngọn cờ chúng tôi; Không còn đấng tiên tri nữa, Và giữa chúng tôi cũng chẳng có ai biết đến chừng nào.
10Aw Sithaw, nasetto maw misa mah kasaethui vop tih? Misa mah na hmin kasae thui poe tih maw?
10Đức Chúa Trời ôi! kẻ cừu địch sẽ nói sỉ nhục cho đến chừng nào? Kẻ thù nghịch há sẽ phạm danh Chúa hoài sao?
11Tipongah na ban, na bantang ban to na zuh let loe? Na saoek thung hoiah pathok ah.
11Sao Chúa rứt tay lại, tức là tay hữu Chúa? Khá rút nó ra khỏi lòng, và tiêu diệt chúng nó đi!
12Sithaw loe canghnii hoiah ni kai ih siangpahrang ah oh boeh; anih mah ni long nuiah pahlonghaih to sak.
12Dầu vậy, Đức Chúa Trời là Vua tôi từ xưa, Vẫn làm sự cứu rỗi trên khắp trái đất.
13Na thacakhaih hoiah tuipui to na pakhoih; tuipuinawk thung ih pahui puinawk ih lu to na khaeh.
13Chúa đã dùng quyền năng Chúa mà rẽ biển ra, Bẻ gãy đầu quái vật trong nước.
14Leviathan ih lunawk to na koihsak phaeng moe, praezaek ah kaom kaminawk hanah buh ah na paek.
14Chúa chà nát đầu lê-vi-a-than, Ban nó làm thực vật cho dân ở đồng vắng.
15Nangmah ni tuibap tui hoi vacong tuinawk to na longsak; vapui tuinawk doeh na kaangsak.
15Chúa khiến suối và khe phun nước, Và làm cho khô các sông lớn.
16Khodai loe nang ih ni, khoving doeh nang ih ni; nangmah ni ni hoi aanghaih to na sak.
16Ngày thuộc về Chúa, đêm cũng vậy; Chúa đã sắm sửa mặt trăng và mặt trời.
17Nangmah ni long angzithaih ramrinawk to na sak moe, nipui hoi siktue doeh na sak.
17Chúa đã đặt các bờ cõi của đất, Và làm nên mùa hè và mùa đông.
18Aw Angraeng, misa mah kasaethuihaih to poek ah; kamthunawk mah loe na hmin to patoek o.
18Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nhớ rằng kẻ thù nghịch đã sỉ nhục, Và một dân ngu dại đã phạm đến danh Ngài.
19Nangmah ih pahuu tuinom hinghaih to kasae kaminawk khaeah paek hmah; nangmah ih amtang kaminawk to dungzan khoek to pahnet hmah.
19Xin chớ phó cho thú dữ linh hồn bò câu đất của Chúa; Cũng đừng quên hoài kẻ khốn cùng của Chúa.
20Lokkamhaih to poek ah; long khoving ahmuennawk loe pacaekthlaekhaih hoiah koi.
20Xin Chúa đoái đến sự giao ước; Vì các nơi tối tăm của đất đều đầy dẫy sự hung bạo.
21Patangkhang kaminawk to palung boengsak hmah; kamtang hoi kavawt kaminawk mah na hmin to saphaw o nasoe.
21Nguyện kẻ bị hà hiếp chớ trở về hổ thẹn; Nguyện kẻ khốn cùng và người thiếu thốn ngợi khen danh Chúa.
22Aw Sithaw, angthawk tahang ah loe, na sak ih hmuen to pakaa ah; kawbangmaw kamthunawk mah nang sethaih kawng ni thokkruek thuih o, tito panoek ah.
22Hỡi Đức Chúa Trời, hãy chỗi dậy, binh vực duyên cớ Chúa. Hãy nhớ lại thể nào kẻ ngu dại hằng ngày sỉ nhục Chúa.
23Na misanawk ih lok to pahnet hmah; na misanawk hanghaih lok loe pop aep aep boeh.
23Xin chớ quên tiếng kẻ cừu địch Chúa: Sự ồn ào của kẻ dấy nghịch cùng Chúa thấu lên không ngớt.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.