Saam 118
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Angraeng loe hoih pongah, angmah khaeah kawnhaih lok to thui oh; a tawnh ih palungnathaih loe dungzan khoek to cak.
1Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
2A palungnathaih loe dungzan khoek to cak, tiah Israel mah thui nasoe.
2Nguyện Y-sơ-ra-ên nói rằng, Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
3A palunghaih loe dungzan khoek to cak, tiah Aaron imthung takoh mah thui nasoe.
3Nguyện nhà A-rôn nói rằng, Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
4Angraeng zii kaminawk boih mah, a palungnathaih loe dungzan khoek to cak, tiah thui o nasoe.
4Nguyện những người kính sợ Đức Giê-hô-va nói rằng, Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
5Palung ka boeng naah Angraeng to ka kawk; anih mah ang pathim moe, kalen parai ahmuen ah ang prawt.
5Trong gian truân tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va; Đức Giê-hô-va bèn đáp lời tôi, để tôi nơi rộng rãi,
6Angraeng loe kai bangah oh pongah, ka zii mak ai; kami mah kawbangmaw na naa thai tih?
6Đức Giê-hô-va binh vực tôi, tôi chẳng sợ; Loài người sẽ làm chi tôi?
7Angraeng loe kai bangah oh moe, kai ang bomh pongah, kai hnuma kaminawk nuiah palung khuek, tihhaih ka hnu tih boeh.
7Đức Giê-hô-va binh vực tôi, thuộc trong bọn kẻ giúp đỡ tôi; Nhân đó tôi sẽ vui thấy kẻ ghét tôi bị báo.
8Kami oep pongah loe Angraeng khaeah amha hae hoih kue.
8Thà nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va Còn hơn tin cậy loài người.
9Long angraengnawk to oep pongah loe Angraeng khaeah amha hae hoih kue.
9Thà nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va Còn hơn tin cậy vua chúa.
10Prae congca kaminawk mah kai ang takui o khoep; toe Angraeng ih ahmin hoiah nihcae to kam rosak han.
10Các nước đã vây tôi; Tôi hủy diệt chúng nó nhân danh Đức Giê-hô-va.
11Nihcae mah kai ahnuk ahma ang maah o; ue, kai ang takui o; toe Angraeng ih ahmin hoiah nihcae to kam rosak han.
11Chúng nó đã vây tôi, phải, đã vây tôi; Tôi hủy diệt chúng nó nhân danh Đức Giê-hô-va.
12Khoimi baktiah kai ang takui o khoep; nihcae loe soekhring hmai baktiah duek o; Angraeng ih ahmin hoiah nihcae to kam rosak han.
12Họ vây tôi khác nào đàn ong; Họ bị tắt như ngọn lửa gai; Tôi hủy diệt chúng nó nhân danh Đức Giê-hô-va.
13Kai amtimh thai hanah, nang nuih; toe Angraeng mah kai ang bomh.
13Ngươi có xô ta mạnh đặng cho ta ngã, Nhưng Giê-hô-va giúp đỡ ta.
14Angraeng loe ka thacakhaih hoi laasakhaih ah oh moe, ka pahlonghaih ah oh.
14Đức Giê-hô-va là sức lực và là bài ca của ta; Ngài trở nên sự cứu rỗi ta.
15Anghoehaih hoi pahlonghaih lok loe katoeng kaminawk ohhaih ahmuen ah oh: Angraeng ih bantang ban mah kalen parai hmuen to sak boeh.
15Trong trại người công bình có tiếng vui mừng cứu rỗi: Tay hữu Đức Giê-hô-va làm việc cả thể.
16Angraeng ih bantang ban loe payangh tahang moe, Angraeng ih bantang ban mah kalen parai hmuen to sak boeh.
16Tay hữu Đức Giê-hô-va giơ cao lên, Tay hữu Đức Giê-hô-va làm việc cả thể.
17Ka dueh mak ai, ka hing tih, to pongah Angraeng mah sak ih hmuen to ka thuih han vop.
17Tôi sẽ chẳng chết đâu, nhưng được sống, Thuật lại những công việc Đức Giê-hô-va.
18Angraeng mah kana parai ah ang thuitaek; toe duekhaih khaeah na paek ai.
18Đức Giê-hô-va đã sửa phạt tôi cách nghiêm trang. Nhưng không phó tôi vào sự chết.
19Kai hanah toenghaih khongkha to ang paongh pae; kai loe akun moe, Angraeng to ka pakoeh han.
19Hãy mở cho tôi các cửa công bình, Tôi sẽ vào ngợi khen Đức Giê-hô-va.
20Hae khongkha loe Angraeng ih ni; katoeng kaminawk loe akun o tih.
20Đây là cửa của Đức Giê-hô-va; Những ngươi công bình sẽ vào đó.
21Ka lok nang pathim moe, ka pahlonghaih ah na oh pongah, nang to kang pakoeh han.
21Tôi sẽ cảm tạ Chúa, vì Chúa đã đáp lời tôi, Trở nên sự cứu rỗi cho tôi.
22Imsah kaminawk mah pahnawt ih thlung loe atho kaom koek im takii ih thlung ah angcoeng boeh.
22Hòn đá mà thợ xây loại ra, Đã trở nên đá đầu góc nhà.
23Hae loe Angraeng mah a sak; aicae mikhnuk ah dawnrai hmuen ah oh.
23Điều ấy là việc của Đức Giê-hô-va, Một sự lạ lùng trước mặt chúng tôi.
24Hae loe Angraeng mah sak ih ani ah oh, anghoehaih hoiah anih khaeah nawm o si.
24Nầy là ngày Đức Giê-hô-va làm nên, Chúng tôi sẽ mừng rỡ và vui vẻ trong ngày ấy.
25Aw Angraeng, nang pahlong hanah kang hnik; Aw Angraeng, tahamhoihhaih nang paek hanah kang hnik.
25Đức Giê-hô-va ôi! xin hãy cứu; Đức Giê-hô-va ơi, xin ban cho chúng tôi được thới thạnh.
26Angraeng ih ahmin hoi angzo kami loe tahamhoih nasoe; Angraeng im hoiah tahamhoihaih kang paek o boeh.
26Đáng ngợi khen đấng nhân danh Đức Giê-hô-va mà đến! Từ nơi nhà Đức Giê-hô-va chúng tôi đã chúc tụng người.
27Angraeng loe Sithaw ah oh moe, aicae han aanghaih to ang paek; angbawnhaih moi to hmaicam takii ah qui hoiah kom o si.
27Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, Ngài đã ban cho chúng tôi ánh sáng. Hãy cột bằng dây con sinh Vào các sừng bàn thờ.
28Nang loe ka Sithaw ah ni na oh, nang to kang pakoeh han; nang loe ka Sithaw ah ni na oh, nang to kang pakoeh han.
28Chúa là Đức Chúa Trời tôi, tôi sẽ cảm tạ Chúa; Chúa là Đức Chúa Trời tôi, tôi sẽ tôn cao Chúa.
29Angraeng loe hoih pongah, angmah khaeah anghoehaih lok to thui oh; a palungnathaih loe dungzan khoek to cak.
29Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.