Saam 80
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Tuu baktiah Joseph zaehoikung, Aw Israel tuu toepkung, tahngai ah; Cherubim salakah anghnu nang, aanghaih to amtuengsak ah.
1Hỡi Đấng chăn giữ Y-sơ-ra-ên, hỡi Đấng dẫn dắt Gia-cốp như bầy chiên, Hãy lắng tai nghe. Hỡi Đấng ngự trên chê-ru-bin, Hãy sáng sự rực rỡ Ngài ra.
2Ephraim, Benjamin hoi Manasseh hmaa ah, na thaa pathok ah, angzo ah loe, kaicae hae pahlong ah.
2Trước mặt Eùp-ra-im, Bên-gia-min, và Ma-na-se, xin hãy giục giã năng lực Ngài, Và đến cứu chúng tôi.
3Aw Sithaw, kaicae hae angthasak let ah loe, na mikhmai to aangsak ah; to tiah nahaeloe pahlong ah ka om o tih.
3Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy đem chúng tôi lại, Và làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
4Aw misatuh kaminawk ih Angraeng Sithaw, nangmah ih kaminawk lawkthuihaih nuiah nasetto maw palung na phui thuih han vop?
4Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, Chúa giận lời cầu nguyện của dân Chúa cho đến chừng nào?
5Nihcae to mikkhraetui takaw hoiah na pacah moe, boengloeng kakoi ah mikkhraetui naek hanah nihcae to na paek boeh.
5Chúa đã nuôi chúng nó bằng bánh giọt lệ, Và cho chúng nó uống nước mắt đầy đấu.
6Ka imtaeng kaminawk mah palungphui thuih hanah nang sak, ka misanawk mah kaicae ang pahnuih o thuih boeh.
6Chúa làm chúng tôi thành bia tranh cạnh cho kẻ lân cận chúng tôi, Và kẻ thù nghịch cùng nhau cười nhạo chúng tôi.
7Aw misatuh kaminawk ih Sithaw, kaicae hae angthasak let ah loe, na mikhmai to aangsak ah; to tih nahaeloe pahlong ah ka om o tih.
7Hỡi Đức Chúa Trời vạn quân, xin hãy đem chúng tôi lại, Và làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
8Misurkung to Izip prae hoiah nang sinh; Sithaw panoek ai kaminawk to na haek bit pacoengah, na thlingh.
8Từ Ê-díp-tô Chúa đã dời sang một cây nho; Chúa đuổi các dân ra, rồi trồng cây ấy;
9Thlingh hanah long to na takaeh, tangzun na saksak moe, prae thungah na koisak.
9Cũng xở đất cho nó, Nó bèn châm rễ và bò đầy đất.
10Anih ih tahlip mah maenawk to khuk moe, anih ih tanghangnawk mah thacak Sidar thingnawk to khuk.
10Các núi bị bóng nó che phủ, Và các nhành nó giống như cây hương nam của Đức Chúa Trời.
11Anih ih tanghang loe tuipui khoek to phak, tadoknawk doeh vapui khoek to phak.
11Các nhành nó gie ra đến biển, Và chồi nó lan đến sông.
12Tipongah loklam ah kacaeh kaminawk boih mah misurthaih pakhrik o hanah, takha to na phraek ving loe?
12Vì cớ sao Chúa phá hàng rào nó, Để cho các kẻ đi qua lảy lặt nó?
13Pangaeh mah akung to amuui moe, taw ih moisannawk mah caak o boeh.
13Heo rừng cắn phá nó, Và các thú đồng ăn nó.
14Aw misatuh kaminawk ih Sithaw, angqoi let hanah, kang pacae o; van hoiah dan tathuk ah, hae misurkung hae khet hanah angzo ah;
14Đức Chúa Trời vạn quân ôi! xin hãy trở lại, Từ trên trời hãy ngó xuống, đoái xem và thăm viếng cây nho nầy,
15na bantang ban hoiah akung to na thlingh, nangmah hanah tanghang to tha na caksak.
15Là tượt nho mà tay hữu Chúa đã trồng, Và là chồi mà Chúa đã chọn cho mình.
16Akung loe hmai hoiah thlaek moe, pakhruk ving boeh; na mikhmai hoi thuitaek ih kaminawk loe amro o boih boeh.
16Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt: Vì cớ sự quở trách của mặt Chúa, chúng nó phải hư mất.
17Na bantang bang ih kami hoi nangmah han tha na caksak ih kami capa nuiah na ban to koeng nasoe.
17Nguyện tay Chúa phù hộ người của tay hữu Chúa, Tức là con người mà Chúa đã chọn cho mình:
18To tiah nahaeloe nang to kang qoi o taak mak ai; na hmin kang kawk o hanah, kaicae hae pathawk ah.
18Rồi chúng tôi sẽ không lìa khỏi Chúa nữa. Xin hãy làm cho chúng tôi được sống lại, thì chúng tôi sẽ cầu khẩn danh Chúa.
19Aw misatuh kaminawk ih Sithaw, kaicae hae angthasak let ah loe, na mikhmai to aangsak ah; to tiah nahaeloe pahlong ah ka om o tih.
19Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, xin hãy đem chúng tôi lại, Làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.