Psaumes 80
Louis Segond 1910Translation
Louis Segond 1910
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Au chef des chantres. Sur les lis lyriques. D’Asaph. Psaume.
1Hỡi Đấng chăn giữ Y-sơ-ra-ên, hỡi Đấng dẫn dắt Gia-cốp như bầy chiên, Hãy lắng tai nghe. Hỡi Đấng ngự trên chê-ru-bin, Hãy sáng sự rực rỡ Ngài ra.
2Prête l’oreille, berger d’Israël, Toi qui conduis Joseph comme un troupeau! Parais dans ta splendeur, Toi qui es assis sur les chérubins!
2Trước mặt Eùp-ra-im, Bên-gia-min, và Ma-na-se, xin hãy giục giã năng lực Ngài, Và đến cứu chúng tôi.
3Devant Éphraïm, Benjamin et Manassé, réveille ta force, Et viens à notre secours!
3Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy đem chúng tôi lại, Và làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
4O Dieu, relève-nous! Fais briller ta face, et nous serons sauvés!
4Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, Chúa giận lời cầu nguyện của dân Chúa cho đến chừng nào?
5Éternel, Dieu des armées! Jusques à quand t’irriteras-tu contre la prière de ton peuple?
5Chúa đã nuôi chúng nó bằng bánh giọt lệ, Và cho chúng nó uống nước mắt đầy đấu.
6Tu les nourris d’un pain de larmes. Tu les abreuves de larmes à pleine mesure.
6Chúa làm chúng tôi thành bia tranh cạnh cho kẻ lân cận chúng tôi, Và kẻ thù nghịch cùng nhau cười nhạo chúng tôi.
7Tu fais de nous un objet de discorde pour nos voisins, Et nos ennemis se raillent de nous.
7Hỡi Đức Chúa Trời vạn quân, xin hãy đem chúng tôi lại, Và làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
8Dieu des armées, relève-nous! Fais briller ta face, et nous serons sauvés!
8Từ Ê-díp-tô Chúa đã dời sang một cây nho; Chúa đuổi các dân ra, rồi trồng cây ấy;
9Tu avais arraché de l’Égypte une vigne; Tu as chassé des nations, et tu l’as plantée.
9Cũng xở đất cho nó, Nó bèn châm rễ và bò đầy đất.
10Tu as fait place devant elle: Elle a jeté des racines et rempli la terre;
10Các núi bị bóng nó che phủ, Và các nhành nó giống như cây hương nam của Đức Chúa Trời.
11Les montagnes étaient couvertes de son ombre, Et ses rameaux étaient comme des cèdres de Dieu;
11Các nhành nó gie ra đến biển, Và chồi nó lan đến sông.
12Elle étendait ses branches jusqu’à la mer, Et ses rejetons jusqu’au fleuve.
12Vì cớ sao Chúa phá hàng rào nó, Để cho các kẻ đi qua lảy lặt nó?
13Pourquoi as-tu rompu ses clôtures, En sorte que tous les passants la dépouillent?
13Heo rừng cắn phá nó, Và các thú đồng ăn nó.
14Le sanglier de la forêt la ronge, Et les bêtes des champs en font leur pâture.
14Đức Chúa Trời vạn quân ôi! xin hãy trở lại, Từ trên trời hãy ngó xuống, đoái xem và thăm viếng cây nho nầy,
15Dieu des armées, reviens donc! Regarde du haut des cieux, et vois! Considère cette vigne!
15Là tượt nho mà tay hữu Chúa đã trồng, Và là chồi mà Chúa đã chọn cho mình.
16Protège ce que ta droite a planté, Et le fils que tu t’es choisi!…
16Cây nho ấy bị lửa cháy, bị chặt: Vì cớ sự quở trách của mặt Chúa, chúng nó phải hư mất.
17Elle est brûlée par le feu, elle est coupée! Ils périssent devant ta face menaçante.
17Nguyện tay Chúa phù hộ người của tay hữu Chúa, Tức là con người mà Chúa đã chọn cho mình:
18Que ta main soit sur l’homme de ta droite, Sur le fils de l’homme que tu t’es choisi!
18Rồi chúng tôi sẽ không lìa khỏi Chúa nữa. Xin hãy làm cho chúng tôi được sống lại, thì chúng tôi sẽ cầu khẩn danh Chúa.
19Et nous ne nous éloignerons plus de toi. Fais-nous revivre, et nous invoquerons ton nom.
19Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, xin hãy đem chúng tôi lại, Làm cho mặt Chúa sáng chói, thì chúng tôi sẽ được cứu.
20Éternel, Dieu des armées, relève-nous! Fais briller ta face, et nous serons sauvés!
no verse 20 in this text
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.