Psaumes 89
Louis Segond 1910Translation
Louis Segond 1910
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Cantique d’Éthan, l’Ezrachite.
1Tôi sẽ hát xướng về sự nhân từ của Đức Giê-hô-va luôn luôn; Từ đời nầy sang đời kia miệng tôi sẽ truyền ra sự thành tín của Ngài.
2Je chanterai toujours les bontés de l’Éternel; Ma bouche fera connaître à jamais ta fidélité.
2Vì tôi đã nói: Sự thương xót sẽ được lập đến đời đời, Trên các từng trời Ngài sẽ lập cho vững bền sự thành tín Ngài.
3Car je dis: La bonté a des fondements éternels; Tu établis ta fidélité dans les cieux.
3Ta đã lập giao ước cùng kẻ được chọn của ta, Ta đã thề cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ ta, mà rằng:
4J’ai fait alliance avec mon élu; Voici ce que j’ai juré à David, mon serviteur:
4Ta sẽ lập dòng dõi ngươi đến mãi mãi, Và dựng ngôi ngươi lên cho vững bền đến đời đời.
5J’affermirai ta postérité pour toujours, Et j’établirai ton trône à perpétuité. — Pause.
5Hỡi Đức Giê-hô-va, các từng trời sẽ ngợi khen phép lạ Ngài; Sự thành tín Ngài cũng sẽ được ngợi khen trong hội các thánh.
6Les cieux célèbrent tes merveilles, ô Éternel! Et ta fidélité dans l’assemblée des saints.
6Vì trên các từng trời, ai sánh được với Đức Giê-hô-va? Trong những con trai kẻ mạnh dạn, ai giống như Đức Giê-hô-va?
7Car qui, dans le ciel, peut se comparer à l’Éternel? Qui est semblable à toi parmi les fils de Dieu?
7Đức Chúa Trời thật rất đáng sợ trong hội các thánh, Đáng hãi hùng hơn kẻ đứng chầu chung quanh Ngài.
8Dieu est terrible dans la grande assemblée des saints, Il est redoutable pour tous ceux qui l’entourent.
8Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, ai có quyền năng giống như Chúa? Sự thành tín Chúa ở chung quanh Chúa.
9Éternel, Dieu des armées! Qui est comme toi puissant, ô Éternel? Ta fidélité t’environne.
9Chúa cai trị sự kiêu căng của biển: Khi sóng nổi lên, Chúa làm cho nó yên lặng.
10Tu domptes l’orgueil de la mer; Quand ses flots se soulèvent, tu les apaises.
10Chúa đã chà nát Ra-háp khác nào kẻ bị đánh chết, Nhờ cánh tay mạnh mẽ Chúa, Chúa đã tản lạc những kẻ thù nghịch Chúa.
11Tu écrasas l’Égypte comme un cadavre, Tu dispersas tes ennemis par la puissance de ton bras.
11Các từng trời thuộc về Chúa, đất cũng thuộc về Chúa; Chúa đã sáng lập thế gian và mọi vật nó chứa.
12C’est à toi qu’appartiennent les cieux et la terre, C’est toi qui as fondé le monde et ce qu’il renferme.
12Phương bắc, phương nam cũng bởi Chúa dựng nên; Tha-bô và Hẹt-môn đều vui mừng vì danh Chúa.
13Tu as créé le nord et le midi; Le Thabor et l’Hermon se réjouissent à ton nom.
13Chúa có cánh tay quyền năng, Bàn tay Chúa có sức mạnh, và tay hữu Chúa giơ cao lên.
14Ton bras est puissant, Ta main forte, ta droite élevée.
14Sự công bình và sự chánh trực là nền của ngôi Chúa; Sự nhân từ và sự chân thật đi trước mặt Chúa.
15La justice et l’équité sont la base de ton trône. La bonté et la fidélité sont devant ta face.
15Phước cho dân nào biết tiếng vui mừng! Hỡi Đức Giê-hô-va, họ bước đi trong ánh sáng của mặt Chúa.
16Heureux le peuple qui connaît le son de la trompette; Il marche à la clarté de ta face, ô Éternel!
16Hằng ngày họ vui mừng vì danh Chúa, Được nhắc cao lên vì sự công bình Chúa.
17Il se réjouit sans cesse de ton nom, Et il se glorifie de ta justice.
17Vì Chúa là sự vinh hiển về sức lực của họ; Nhờ ơn Chúa, sừng chúng tôi sẽ được ngước cao lên.
18Car tu es la gloire de sa puissance; C’est ta faveur qui relève notre force.
18Vì Đức Giê-hô-va là cái khiên của chúng tôi, Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên là Vua chúng tôi.
19Car l’Éternel est notre bouclier, Le Saint d’Israël est notre roi.
19Bấy giờ, trong dị tượng, Chúa có phán cùng người thánh của Chúa, Mà rằng: Ta đã đặt một người mạnh dạn làm kẻ tiếp trợ, Nhắc cao lên một đấng lựa chọn từ trong dân sự.
20Alors tu parlas dans une vision à ton bien-aimé, Et tu dis: J’ai prêté mon secours à un héros, J’ai élevé du milieu du peuple un jeune homme;
20Ta đã gặp Đa-vít, là kẻ tôi tớ ta, Xức cho người bằng dầu thánh ta,
21J’ai trouvé David, mon serviteur, Je l’ai oint de mon huile sainte.
21Tay ta sẽ nâng đỡ người, Cánh tay ta sẽ làm cho người mạnh mẽ.
22Ma main le soutiendra, Et mon bras le fortifiera.
22Kẻ thù nghịch sẽ chẳng hiếp đáp người, Con kẻ ác cũng sẽ không làm khổ sở người được.
23L’ennemi ne le surprendra pas, Et le méchant ne l’opprimera point;
23Ta sẽ đánh đổ kẻ cừu địch người tại trước mặt người. Và cũng đánh hại những kẻ ghét người.
24J’écraserai devant lui ses adversaires, Et je frapperai ceux qui le haïssent.
24Song sự thành tín và sự nhân từ ta sẽ ở cùng người; Nhân danh ta, sừng người sẽ được ngước lên.
25Ma fidélité et ma bonté seront avec lui, Et sa force s’élèvera par mon nom.
25Ta cũng sẽ đặt tay người trên biển, Và tay hữu người trên các sông.
26Je mettrai sa main sur la mer, Et sa droite sur les fleuves.
26Người sẽ kêu cùng ta rằng: Chúa là Cha tôi, Là Đức Chúa Trời tôi, và là hòn đá về sự cứu rỗi tôi.
27Lui, il m’invoquera: Tu es mon père, Mon Dieu et le rocher de mon salut!
27Lại ta cũng sẽ làm người thành con trưởng nam ta, Vua cao hơn hết các vua trên đất.
28Et moi, je ferai de lui le premier-né, Le plus élevé des rois de la terre.
28Ta sẽ dành giữ cho người sự nhân từ ta đến đời đời, Lập cùng người giao ước ta cho vững bền.
29Je lui conserverai toujours ma bonté, Et mon alliance lui sera fidèle;
29Ta cũng sẽ làm cho dòng dõi người còn đến đời đời, Và ngôi người còn lâu dài bằng các ngày của trời.
30Je rendrai sa postérité éternelle, Et son trône comme les jours des cieux.
30Nếu con cháu người bỏ luật pháp ta, Không đi theo mạng lịnh ta,
31Si ses fils abandonnent ma loi Et ne marchent pas selon ses ordonnances,
31Nếu chúng nó bội nghịch luật lệ ta, Chẳng giữ các điều răn của ta,
32S’ils violent mes préceptes Et n’observent pas mes commandements,
32Thì ta sẽ dùng roi đánh phạt sự vi phạm chúng nó, Và lấy thương tích mà phạt sự gian ác của chúng nó.
33Je punirai de la verge leurs transgressions, Et par des coups leurs iniquités;
33Nhưng ta sẽ chẳng cất lấy sự nhân từ ta khỏi người, Và sự thành tín ta cũng sẽ chẳng hết.
34Mais je ne lui retirerai point ma bonté Et je ne trahirai pas ma fidélité,
34Ta sẽ không hề bội giao ước ta, Cũng chẳng đổi lời đã ra khỏi môi miệng ta.
35Je ne violerai point mon alliance Et je ne changerai pas ce qui est sorti de mes lèvres.
35Ta đã chỉ sự thánh ta mà thề một lần, Cũng sẽ không hề nói dối với Đa-vít:
36J’ai juré une fois par ma sainteté: Mentirai-je à David?
36Dòng dõi người sẽ còn đến đời đời, Và ngôi người sẽ còn lâu như mặt trời ở trước mặt ta.
37Sa postérité subsistera toujours; Son trône sera devant moi comme le soleil,
37Ngôi ấy sẽ được lập vững bền mãi mãi như mặt trăng, Như đấng chứng thành tín tại trên trời vậy.
38Comme la lune il aura une éternelle durée. Le témoin qui est dans le ciel est fidèle. — Pause.
38Song Chúa lại từ bỏ, khinh bỉ người, Nổi giận cùng đấng chịu xức dầu của Chúa.
39Et pourtant, tu as rejeté, tu as repoussé! Tu t’es irrité contre ton oint!
39Chúa đã gớm ghê giao ước kẻ tôi tớ Chúa, Và quăng mão triều người xuống bụi đất mà làm nó ra phàm.
40Tu as dédaigné l’alliance avec ton serviteur; Tu as abattu, profané sa couronne.
40Chúa đã đánh đổ các rào người, Phá những đồn lũy người ra tan nát.
41Tu as détruit toutes ses murailles, Tu as mis en ruines ses forteresses.
41Hết thảy kẻ nào đi qua cướp giựt người; Người đã trở nên sự sỉ nhục cho kẻ lân cận mình.
42Tous les passants le dépouillent; Il est un objet d’opprobre pour ses voisins.
42Chúa đã nhắc tay cừu địch người cao lên, Làm cho những kẻ thù nghịch người vui vẻ.
43Tu as élevé la droite de ses adversaires, Tu as réjoui tous ses ennemis;
43Phải, Chúa làm cho lưỡi gươm người thối lại, Chẳng có giúp đỡ người đứng nổi trong cơn chiến trận.
44Tu as fait reculer le tranchant de son glaive, Et tu ne l’as pas soutenu dans le combat.
44Chúa đã làm cho sự rực rỡ người mất đi, Ném ngôi người xuống đất,
45Tu as mis un terme à sa splendeur, Et tu as jeté son trône à terre;
45Khiến các ngày đang thì người ra vắn, Và bao phủ người bằng sự sỉ nhục.
46Tu as abrégé les jours de sa jeunesse, Tu l’as couvert de honte. — Pause.
46Đức Giê-hô-va ôi! Ngài sẽ ẩn mình hoài cho đến chừng nào? Cơn giận Ngài sẽ cháy như lửa cho đến bao giờ?
47Jusques à quand, Éternel! Te cacheras-tu sans cesse, Et ta fureur s’embrasera-t-elle comme le feu?
47Oâi Chúa! xin nhớ lại thì giờ tôi ngắn dường nào: Chúa dựng nên con loài người hư không dường bao!
48Rappelle-toi ce qu’est la durée de ma vie, Et pour quel néant tu as créé tous les fils de l’homme.
48Ai là người sống mà sẽ chẳng thấy sự chết? Ai sẽ cứu linh hồn mình khỏi quyền âm phủ?
49Y a-t-il un homme qui puisse vivre et ne pas voir la mort, Qui puisse sauver son âme du séjour des morts? — Pause.
49Hỡi Chúa, sự nhân từ xưa mà Chúa trong sự thành tín mình Đã thề cùng Đa-vít, bây giờ ở đâu?
50Où sont, Seigneur! Tes bontés premières, Que tu juras à David dans ta fidélité?
50Chúa ôi! xin nhớ lại sự sỉ nhục của các tôi tớ Chúa; Tôi mang trong lòng tôi sự sỉ nhục của các dân lớn,
51Souviens-toi, Seigneur! De l’opprobre de tes serviteurs, Souviens-toi que je porte en mon sein tous les peuples nombreux;
51Hỡi Đức Giê-hô-va, tức là sự sỉ nhục mà những kẻ thù nghịch Chúa Đã dùng để sỉ nhục các bước đấng chịu xức dầu của Chúa.
52Souviens-toi des outrages de tes ennemis, ô Éternel! De leurs outrages contre les pas de ton oint.
52Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va đến đời đời! A-men! A-men!
53Béni soit à jamais l’Éternel! Amen! Amen!
no verse 53 in this text
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.