Psaumes 55
Louis Segond 1910Translation
Louis Segond 1910
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Au chef des chantres. Avec instruments à cordes. Cantique de David.
1Lạy Đức Chúa Trời, xin hãy lắng tai nghe lời cầu nguyện tôi, Chớ ẩn mặt Chúa cho khỏi nghe lời nài xin tôi.
2O Dieu! Prête l’oreille à ma prière, Et ne te dérobe pas à mes supplications!
2Xin hãy nghe, và đáp lại tôi; Tôi xốn xang, than thở, và rên siếc,
3Écoute-moi, et réponds-moi! J’erre çà et là dans mon chagrin et je m’agite,
3Bởi tiếng kẻ thù nghịch, và bởi kẻ ác hà hiếp; Vì chúng nó thêm sự ác trên mình tôi, Bắt bớ tôi cách giận dữ.
4A cause de la voix de l’ennemi et de l’oppression du méchant; Car ils font tomber sur moi le malheur, Et me poursuivent avec colère.
4Lòng tôi rất đau đớn trong mình tôi, Sự kinh khiếp về sự chết đã áp lấy tôi.
5Mon cœur tremble au-dedans de moi, Et les terreurs de la mort me surprennent;
5Nỗi sợ sệt và sự run rẩy đã giáng trên tôi, Sự hoảng hốt đã phủ lấy tôi.
6La crainte et l’épouvante m’assaillent, Et le frisson m’enveloppe.
6Tôi có nói: Oâi! chớ chi tôi có cánh như bò câu, Aét sẽ bay đi và ở được yên lặng.
7Je dis: Oh! Si j’avais les ailes de la colombe, Je m’envolerais, et je trouverais le repos;
7Phải, tôi sẽ trốn đi xa, ỳ trong đồng vắng.
8Voici, je fuirais bien loin, J’irais séjourner au désert; — Pause.
8Tôi sẽ lật đật chạy đụt khỏi gió dữ, Và khỏi dông tố.
9Je m’échapperais en toute hâte, Plus rapide que le vent impétueux, que la tempête.
9Hỡi Chúa, hãy nuốt chúng nó, khiến cho lộn xộn tiếng chúng nó; Vì tôi thấy sự hung bạo và sự tranh giành trong thành.
10Réduis à néant, Seigneur, divise leurs langues! Car je vois dans la ville la violence et les querelles;
10Ngày và đêm chúng nó đi vòng-quanh trên vách thành; Sự ác và điều khuấy khỏa ở giữa thành.
11Elles en font jour et nuit le tour sur les murs; L’iniquité et la malice sont dans son sein;
11Sự gian tà cũng ở giữa thành; Điều hà hiếp và sự giả ngụy không lìa khỏi đường phố nó.
12La méchanceté est au milieu d’elle, Et la fraude et la tromperie ne quittent point ses places.
12Vì chẳng kẻ thù nghịch sỉ nhục tôi; bằng vậy, tôi có thể chịu được; Cũng chẳng kẻ ghét tôi dấy lên cùng tôi cách kiêu ngạo; Bằng vậy, tôi đã có thể ấn mình khỏi nó.
13Ce n’est pas un ennemi qui m’outrage, je le supporterais; Ce n’est pas mon adversaire qui s’élève contre moi, Je me cacherais devant lui.
13Nhưng chính là ngươi, kẻ bình đẳng cùng tôi, Bậu bạn tôi, thiết hữu tôi.
14C’est toi, que j’estimais mon égal, Toi, mon confident et mon ami!
14Chúng tôi đã cùng nhau nghị bàn cách êm dịu; Chúng tôi đi với đoàn đông đến nhà Đức Chúa Trời.
15Ensemble nous vivions dans une douce intimité, Nous allions avec la foule à la maison de Dieu!
15Nguyện sự chết thình lình xảy đến chúng nó! Nguyện chúng nó còn sống phải sa xuống âm phủ! Vì sự ác ở nhà chúng nó, tại trong lòng chúng nó.
16Que la mort les surprenne, Qu’ils descendent vivants au séjour des morts! Car la méchanceté est dans leur demeure, au milieu d’eux.
16Còn tôi kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, Đức Giê-hô-va ắt sẽ cứu tôi.
17Et moi, je crie à Dieu, Et l’Éternel me sauvera.
17Buổi chiều, buổi sáng, và ban trưa, tôi sẽ than thở rên siếc; Ngài ắt sẽ nghe tiếng tôi.
18Le soir, le matin, et à midi, je soupire et je gémis, Et il entendra ma voix.
18Ngài đã chuộc linh hồn tôi khỏi cơn trận dàn nghịch cùng tôi, và ban bình an cho tôi, Vì những kẻ chiến đấu cùng tôi đông lắm.
19Il me délivrera de leur approche et me rendra la paix, Car ils sont nombreux contre moi.
19Đức Chúa Trời, là Đấng hằng có từ trước vô cùng, Sẽ nghe và báo trả chúng nó; Vì chúng nó chẳng có sự biến cải trong mình, Cũng chẳng kính sợ Đức Chúa Trời.
20Dieu entendra, et il les humiliera, Lui qui de toute éternité est assis sur son trône; — Pause. Car il n’y a point en eux de changement, Et ils ne craignent point Dieu.
20Kẻ ác đã tra tay trên những người ở hòa bình cùng nó; Nó đã bội nghịch giao ước mình.
21Il porte la main sur ceux qui étaient en paix avec lui, Il viole son alliance;
21Miệng nó trơn láng như mỡ sữa, Nhưng trong lòng có sự giặc giã. Các lời nó dịu dàng hơn dầu, Nhưng thật là những thanh gươm trần.
22Sa bouche est plus douce que la crème, Mais la guerre est dans son cœur; Ses paroles sont plus onctueuses que l’huile, Mais ce sont des épées nues.
22Hãy trao gánh nặng ngươi cho Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ nâng đỡ ngươi; Ngài sẽ chẳng hề cho người công bình bị rúng động.
23Remets ton sort à l’Éternel, et il te soutiendra, Il ne laissera jamais chanceler le juste.
23Hỡi Đức Chúa Trời, kẻ ham đổ huyết và người giả ngụy sống chẳng đến được nửa số các ngày định cho mình; Chúa sẽ xô chúng nó xuống hầm diệt vong; Còn tôi sẽ tin cậy nơi Chúa.
24Et toi, ô Dieu! Tu les feras descendre au fond de la fosse; Les hommes de sang et de fraude N’atteindront pas la moitié de leurs jours. C’est en toi que je me confie.
no verse 24 in this text
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.