Saam
Chapter 55
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Aw Sithaw, lawk ka thuihaih hae tahngai ah; tahmen kang hnikhaih hoi angqoi taak hmah.
1Lạy Đức Chúa Trời, xin hãy lắng tai nghe lời cầu nguyện tôi, Chớ ẩn mặt Chúa cho khỏi nghe lời nài xin tôi.
2Na tahngai pae ah loe pathim ah: poek anghmang sut moe,
2Xin hãy nghe, và đáp lại tôi; Tôi xốn xang, than thở, và rên siếc,
3ka misa ih lok hoi kasae kaminawk ih pacaekthlaekhaih pongah, ka hang khing boeh; nihcae loe a sakpazae o haih to ka nuiah amtik o, kai palung ang phui o thuih moe, ang hnukma o.
3Bởi tiếng kẻ thù nghịch, và bởi kẻ ác hà hiếp; Vì chúng nó thêm sự ác trên mình tôi, Bắt bớ tôi cách giận dữ.
4Ka palung loe athung ah patangkhang; duek zithaih mah ang kraeng khoep boeh.
4Lòng tôi rất đau đớn trong mình tôi, Sự kinh khiếp về sự chết đã áp lấy tôi.
5Ka nuiah zithaih hoi tasoehhaih to phak moe, kai loe zithaih mah muek khoep boeh.
5Nỗi sợ sệt và sự run rẩy đã giáng trên tôi, Sự hoảng hốt đã phủ lấy tôi.
6To naah, Aw pahuu baktiah pakhraeh ka tawnh soe nahaeloe, kangthla ah ka zawk moe, amding rue ah ka oh han boeh!
6Tôi có nói: Oâi! chớ chi tôi có cánh như bò câu, Aét sẽ bay đi và ở được yên lặng.
7Khenah, kangthla ah kam het moe, praezaek ah ka oh ving han. Selah .
7Phải, tôi sẽ trốn đi xa, ỳ trong đồng vắng.
8Takhi pui hoi takhi sae to loih hanah, karangah ka cawnh han, tiah ka thuih.
8Tôi sẽ lật đật chạy đụt khỏi gió dữ, Và khỏi dông tố.
9Aw Angraeng, nihcae amrosak hanah, lok to anghmangsak ah; vangpui thungah lokpunghaih hoi angzoehhaih to ka hnuk boeh.
9Hỡi Chúa, hãy nuốt chúng nó, khiến cho lộn xộn tiếng chúng nó; Vì tôi thấy sự hung bạo và sự tranh giành trong thành.
10Nihcae loe aqum athun sipae taengah caeh o; athung ah loe kahoih ai hmuen sakhaih hoi qahhaih to oh.
10Ngày và đêm chúng nó đi vòng-quanh trên vách thành; Sự ác và điều khuấy khỏa ở giữa thành.
11Kasae sakhaih vangpui thungah oh o, lampuinawk ah kaom pacaekthlaekhaih hoi alinghaih loe boeng thai ai boeh.
11Sự gian tà cũng ở giữa thành; Điều hà hiếp và sự giả ngụy không lìa khỏi đường phố nó.
12Kai pahnui thuih kami loe kai ih misa na ai ni, kai ih misa ah om cadoeh ka pauep thai tih; angmah hoi angmah amkoeh moe, kai hnuma kami doeh kai ih misa na ai ni, kai ih misa ah om nahaeloe, anih to ka yae ving han:
12Vì chẳng kẻ thù nghịch sỉ nhục tôi; bằng vậy, tôi có thể chịu được; Cũng chẳng kẻ ghét tôi dấy lên cùng tôi cách kiêu ngạo; Bằng vậy, tôi đã có thể ấn mình khỏi nó.
13to kami loe, kai hoi kanghmong, kam pui, ampui kangzong ah kaom, nang ni.
13Nhưng chính là ngươi, kẻ bình đẳng cùng tôi, Bậu bạn tôi, thiết hữu tôi.
14Kaicae loe kahoih lok to ka thuih o moe, kaminawk hoi nawnto Sithaw im ah ka caeh o.
14Chúng tôi đã cùng nhau nghị bàn cách êm dịu; Chúng tôi đi với đoàn đông đến nhà Đức Chúa Trời.
15Sethaih loe nihcae ohhaih ahmuen, nihcae salakah oh pongah, nihcae to duekhaih mah naeh nasoe loe, hell thungah kahingah caeh o nasoe.
15Nguyện sự chết thình lình xảy đến chúng nó! Nguyện chúng nó còn sống phải sa xuống âm phủ! Vì sự ác ở nhà chúng nó, tại trong lòng chúng nó.
16Toe kai loe, Sithaw to ka kawk han; Angraeng mah na pahlong tih.
16Còn tôi kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, Đức Giê-hô-va ắt sẽ cứu tôi.
17Duembang, akhawnbang hoi athun ah, lawkthuihaih hoiah ka hangh; to naah anih mah ka lok na thaih pae tih.
17Buổi chiều, buổi sáng, và ban trưa, tôi sẽ than thở rên siếc; Ngài ắt sẽ nghe tiếng tôi.
18Kai tuh kami loe pop o parai pognah, kai ang tuk o naah, anih mah monghaih hoiah ka hinghaih ang pahlong.
18Ngài đã chuộc linh hồn tôi khỏi cơn trận dàn nghịch cùng tôi, và ban bình an cho tôi, Vì những kẻ chiến đấu cùng tôi đông lắm.
19Canghnii hoiah kaom poe Sithaw mah thaih naah, nihcae to pacaekthlaek tih. Selah . Nihcae loe amkhraihaih om ai pongah, Sithaw zii o ai.
19Đức Chúa Trời, là Đấng hằng có từ trước vô cùng, Sẽ nghe và báo trả chúng nó; Vì chúng nó chẳng có sự biến cải trong mình, Cũng chẳng kính sợ Đức Chúa Trời.
20To baktih kami loe a thuih ih lok baktiah om ai, angmah hoi angdaeh ampui to misa ah suek.
20Kẻ ác đã tra tay trên những người ở hòa bình cùng nó; Nó đã bội nghịch giao ước mình.
21Pakha hoi tacawt a thuih ih loknawk loe samdai baktiah amnae, toe palung thungah loe misatuk han ih khue ni a poek; a lok loe moithawk pongah naem kue, toe nihcae loe sumsen hoi kami hum hanah oh o coek.
21Miệng nó trơn láng như mỡ sữa, Nhưng trong lòng có sự giặc giã. Các lời nó dịu dàng hơn dầu, Nhưng thật là những thanh gươm trần.
22Nangmah ih hmuenzit to Angraeng khaeah amtii ah, anih mah na bomh tih; katoeng kami loe natuek naah doeh amtimsak mak ai.
22Hãy trao gánh nặng ngươi cho Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ nâng đỡ ngươi; Ngài sẽ chẳng hề cho người công bình bị rúng động.
23Toe Aw Sithaw, nang mah nihcae to tangqom thungah pakhrah tih; athii anghae kami hoi aling thaih kaminawk loe, a hing o haih ahap mataeng doeh hing o mak ai; toe kai loe, nang khaeah ni ka buep han.
23Hỡi Đức Chúa Trời, kẻ ham đổ huyết và người giả ngụy sống chẳng đến được nửa số các ngày định cho mình; Chúa sẽ xô chúng nó xuống hầm diệt vong; Còn tôi sẽ tin cậy nơi Chúa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.