Saam 139
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Aw Angraeng, kai to nang pakrong moe, nang panoek.
1Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã dò xét tôi, và biết tôi.
2Kang hnuthaih hoi kang doethaih to na panoek, ka poekhaih hae ahmuen kangthla hoiah na panoek.
2Chúa biết khi tôi ngồi, lúc tôi đứng dậy; Từ xa Chúa hiểu biết ý tưởng tôi.
3Ka caehhaih loklam hoi ka iihhaih doeh nang panoek, ka caehhaih loklamnawk doeh na maat boih.
3Chúa xét nét nẻo đàng và sự nằm ngủ tôi, Quen biết các đường lối tôi.
4Ka palai mah lok maeto doeh thui ai vop to mah, toe khenah, Aw Angraeng, nangmah loe panoek boih boeh.
4Vì lời chưa ở trên lưỡi tôi, Kìa, hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã biết trọn hết rồi.
5Kai hae nang takui moe, ka nuiah ban na koeng.
5Chúa bao phủ tôi phía sau và phía trước, Đặt tay Chúa trên mình tôi.
6To baktih palunghahaih loe kai hanah dawnrai parai han kaom hmuen ah ni oh; sang parai moe, ka phak vawt.
6Sự tri thức dường ấy, thật diệu k” quá cho tôi, Cao đến đổi tôi không với kịp!
7Na Muithla khae hoiah naah maw ka caeh thai tih? To tih ai boeh loe na hmaa hoiah nabangah maw ka cawn thai tih?
7Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa?
8Van ah ka caeh tahang cadoeh, to ah nang na oh; taprong thungah kang song cadoeh, khenah, to ah nang na oh.
8Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó, Ví tôi nằm dưới âm-phủ, kìa, Chúa cũng có ở đó.
9Akhawnbang ih pakhraeh to ka tawnh moe, tuipui zaeh ahmuen kangthla ah ka zawk langlacadoeh;
9Nhược bằng tôi lấy cánh hừng đông, Bay qua ở tại cuối cùng biển,
10na ban hoiah kai nang zae ueloe, na bantang ban hoiah nang patawn tih.
10Tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, Tay hữu Chúa sẽ nắm giữ tôi.
11Vinghaih mah kai na khuk khoep tangtang tih boeh, tiah ka thuih cadoeh, ka taengah aanghaih to om tih.
11Nếu tôi nói: Sự tối tăm chắc sẽ che khuất tôi, Aùnh sáng chung quanh tôi trở nên đêm tối,
12Ue, vinghaih mah kai na khuk thai mak ai; khoving loe khodai baktiah aang tih; nang hanah loe vinghaih hoi aanghaih to anghmong.
12Thì chính sự tối tăm không thể giấu chi khỏi Chúa, Ban đêm soi sáng như ban ngày, Và sự tối tăm cũng như ánh sáng cho Chúa.
13Ka tak thung ih angannawk loe nangmah ni na sak; kam no zokthung ah ka oh naah nang khuk hmoek boeh.
13Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, Dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi.
14Kai hae zitthok hoi dawnrai koi kaom ah nang sak pongah, nang to kang pakoeh han; na sak ih hmuennawk loe dawnrai han oh, tiah ka hinghaih mah kahoih ah panoek.
14Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng. Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm.
15Kai hae sak naah kathuk koek ahmuen ah tamquta hoiah nang sak; ka takpum hae nang khae hoiah anghawk thai ai.
15Khi tôi được dựng nên trong nơi kín, Chịu nắn nên cách xảo lại nơi thấp của đất, Thì các xương cốt tôi không giấu được Chúa.
16Kacung ai ah sak ih, ka takpum hae mik hoiah na hnuk boeh; nihcae ih krang to om ai vop moe, mi doeh om ai naah, ka sak ih hmuennawk to na cabu thungah na tarik boih boeh.
16Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; Số các ngày định cho tôi, Đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy.
17Aw Sithaw, na poekhaihnawk loe kai hanah atho oh parai! Kroeklaek ai khoek to kawk!
17Hỡi Đức Chúa Trời, các tư tưởng Chúa quí báu cho tôi thay! Số các tư tưởng ấy thật lớn thay!
18Ka kroek nahaeloe, savuet pongah pop kue tih; kang thawk tahang naah, nang khaeah ni ka oh poe vop.
18Nếu tôi muốn đếm các tư tưởng ấy, thì nhiều hơn cát. Khi tôi tỉnh thức tôi còn ở cung Chúa.
19Aw Angraeng, kasae kaminawk loe na hum tangtang tih; to pongah nangcae athii anghae kaminawk, kai khae hoi kangthla ah om oh.
19Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa ắt sẽ giết kẻ ác! Hỡi người huyết, hãy đi khỏi ta.
20Nihcae mah nang to kasae thuih o moe, na misanawk mah na hmin to atho kaom ai ah patoh o boeh.
20Chúng nó nói nghịch Chúa cách phớm phỉnh, Kẻ thù nghịch Chúa lấy danh Chúa mà làm chơi.
21Aw Angraeng, nang hnuma kaminawk to ka hnukma moe, nang misa angthawk thuih kaminawk to ka panuet na ai maw?
21Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi há chẳng ghét những kẻ ghét Chúa ư? Há chẳng gớm ghiếc những kẻ dấy nghịch Chúa sao?
22Nihcae to ka hnukma tangtang, nihcae loe ka misa ah ni ka poek.
22Tôi ghét chúng nó, thật là ghét, Cầm chúng nó bằng kẻ thù nghịch tôi.
23Aw Sithaw, na pakrong ah loe, ka palungthin hae panoek pae ah; na tanoek ah loe, ka poekhaihnawk hae panoek ah.
23Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi; Hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi;
24Sethaih loklam to ka pazui maw pazui ai tito khen ah loe, dungzan loklam ah na caeh haih ah.
24Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng, Xin dắt tôi vào con đường đời đời.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.