Saam 40
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Angraeng to palungsawkhaih hoiah ka zing pongah, anih loe kai khaeah angqoi moe, ka qahhaih lok to ang tahngaih pae.
1Tôi nhịn nhục trông đợi Đức Giê-hô-va, Ngài nghiêng qua nghe tiếng kêu cầu của tôi.
2Anih mah tangnong kathuk, zitthok tangqom thung hoiah ang zuh tahang, ka khok lungsong nuiah ang koengsak moe, ka caehhaih loklam to ang caksak.
2Ngài cũng đem tôi lên khỏi hầm gớm ghê, Khỏi vũng bùn lấm; Ngài đặt chân tôi trên hòn đá, Và làm cho bước tôi vững bền.
3Anih mah aicae Sithaw saphawhaih laa kangtha to ka pakha ah ang paek: to hmuen to kanoih parai kaminawk mah hnuk o naah, zithaih tawn o ueloe, Angraeng tanghaih to tawn o tih.
3Ngài để nơi miệng tôi một bài hát mới, Tức là sự ngợi khen Đức Chúa Trời chúng tôi. Lắm người sẽ thấy điều đó, bắt sợ, Và nhờ cậy nơi Đức Giê-hô-va.
4Amoek kami thapaek ai, kami aling hanah lam amkhraeng kami to khen ai ah, Angraeng tanghaih tawn kami loe tahamhoih.
4Phước cho người nào để lòng tin cậy nơi Đức Giê-hô-va, Chẳng nể vì kẻ kiêu ngạo, hoặc kẻ xây theo sự dối trá!
5Aw ka Angraeng Sithaw, kaicae han nang sak pae ih dawnrai hmuennawk hoi na poekhaihnawk loe pop parai; ka thui laek mak ai: ka kroek aep to mah kroek thai mak ai.
5Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, công việc lạ lùng Chúa đã làm, Và những tư tưởng của Chúa hướng cùng chúng tôi, thật là nhiều, Không thể sắp đặt trước mặt Chúa; Nếu tôi muốn truyền các việc ấy ra, và nói đến, Thật lấy làm nhiều quá không đếm được.
6Nang loe angbawnhaih hoi hmuen paekhaih to na koeh ai; ka naa hae nang khawsak boeh: hmai angbawnhaih hoi zae angbawnhaih to na hni ai.
6Chúa không thích đẹp hi sinh hoặc của lễ chay: Chúa đã sỏ tai tôi. Chúa không có đòi của lễ thiêu hay là của lễ chuộc tội.
7To naah kai mah, cabu tangoeng thungah kai kawng tarik o baktih toengah, khenah, kang zoh boeh,
7Bấy giờ tôi nói: Nầy tôi đến; Trong quyển sách đã có chép về tôi;
8Aw ka Sithaw, na koehhaih sak han ka koeh, ue, nang ih kaalok loe ka palung thungah oh, tiah ka thuih.
8Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.
9Kanoih parai kaminawk khaeah toenghaih kawng to ka thuih: khenah, Aw Angraeng, ka pahni hae ka tamuep ai, tito na panoek.
9Trong hội lớn tôi đã truyền tin vui về sự công bình; Kìa, tôi chẳng có ngậm miệng lại, Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài biết điều đó.
10Na toenghaih ka palung thungah ka hawk ai; na oepthohhaih hoi na pahlonghaih to ka thuih boeh: pop parai kaminawk hmaa ah nam lunghaih hoi tangtang na lok to taphong ai ah ka om ai.
10Tôi chẳng giấu sự công bình Chúa ở nơi lòng tôi; Tôi đã truyền ra sự thành tín và sự cứu rỗi của Chúa; Tôi nào có giấu hội lớn sự nhân từ và sự chân thật của Chúa.
11Aw Angraeng, na tahmenhaih to pakaa ving hmah: nam lunghaih hoi na loktang lok mah na toep poe nasoe.
11Đức Giê-hô-va ôi! đối cùng tôi chớ khép lòng thương xót của Ngài; Nguyện sự nhân từ và sự chân thật của Ngài gìn giữ tôi luôn luôn.
12Kroek laek ai sethaihnawk mah kai ang takui o khoep boeh: ka sakpazaehaihnawk mah kai ang zaeng khoep boeh pongah, ka mik amtueng ai boeh; nihcae loe ka lu nui ih samnawk pongah doeh pop o kue: to pongah palung ka boeng sut boeh.
12Vì vô số tai họa đã vây quanh tôi; Các gian ác tôi đã theo kịp tôi, Đến nỗi không thể ngước mắt lên được; Nó nhiều hơn tóc trên đầu tôi, Lòng tôi đã thất kinh.
13Aw Angraeng, kai pahlong han anghoe ah: Aw Angraeng, kai abomh hanah karangah angzo ah.
13Đức Giê-hô-va ôi! xin sẵn lòng giải cứu tôi. Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy mau mau giúp đỡ tôi.
14Ka hinghaih lak han pakrong kaminawk loe azatpaw o nasoe loe, dawnrai anghmanghaih hoiah om o nasoe: kai amrosak koeh kaminawk loe azatpaw o nasoe loe, palung boenghaih hoiah hnukbangah amlaem o nasoe.
14Phàm kẻ nào tìm giết mạng sống tôi, Nguyện chúng nó bị mất cỡ và hổ thẹn cả; Phàm kẻ nào vui vẻ về sự thiệt hại tôi, Nguyện chúng nó phải lui lại và bị sỉ nhục.
15Kai hanah Aha! aha! tiah pahnui thuih kaminawk loe, azat loiah khosak anghmang o sut nasoe.
15Các kẻ nói về tôi: Ha, ha! Nguyện chúng nó bị sửng sờ vì cớ sự sỉ nhục của chúng nó.
16Nang pakrong kaminawk boih loe, nang ah anghoe o nasoe loe, poeknawm o nasoe: na pahlonghaih koeh kaminawk mah, Angraeng loe lensawkhaih om nasoe, tiah thui o poe nasoe.
16Nguyện hết thảy những kẻ tìm cầu Chúa, Được vui vẻ và khoái lạc nơi Chúa; Nguyện những người yêu mến sự cứu rỗi của Chúa, Hằng nói rằng: Đức Giê-hô-va đáng tôn đại thay?
17Toe kai loe amtang kami ah ka oh; Angraeng mah kai hanah kho ang poek pae: nang loe kai bomkung hoi pahlongkung ah na oh; Aw ka Sithaw, akra hmah.
17Còn tôi là khốn cùng và thiếu thốn; Dầu vậy, Chúa tưởng đến tôi. Chúa là sự tiếp trợ tôi, và là Đấng giải cứu tôi. Đức Chúa Trời tôi ôi! xin chớ trễ hoãn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.