Saam 44
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Aw Sithaw, naa hoi ka thaih o boeh; canghnii ah, nang mah nihcae khaeah na sak pae ih tok to, kam panawk mah ang thuih o boeh.
1Hỡi Đức Chúa Trời, lỗ tai chúng tôi có nghe, Tổ phụ chúng tôi đã thuật lại Công việc Chúa đã làm trong đời họ, Buổi ngày xưa.
2Sithaw panoek ai kaminawk loe na ban hoiah na haek moe, kam panawk hanah to ahmuen to na paek; to kaminawk to na pacaekthlaek moe, kam panawk to na loisak.
2Chúa dùng tay mình đuổi các dân tộc ra, song lại tài bồi tổ phụ chúng tôi; Chúa làm khổ cho các dân; nhưng lại làm cho tổ phụ chúng tôi lan ra.
3Nihcae mah to prae to sumsen hoiah pazawk o ai, angmacae bantha hoiah doeh pazawk o ai: toe nihcae to na palung pongah na bantang ban, na ban hoi na mikhmai aanghaih hoiah ni na pahlong.
3Vì họ chẳng nhờ thanh gươm mình mà được xứ, Cũng chẳng nhờ cánh tay mình mà được cứu; Bèn nhờ tay hữu Chúa, cánh tay Chúa, và sự sáng mặt Chúa, Vì Chúa làm ơn cho họ.
4Aw Sithaw, nang loe ka Siangpahrang ah na oh; Jakob pahlonghaih lok to paek ah.
4Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là vua tôi; Cầu Chúa ban lịnh giải cứu Gia-cốp.
5Nang rang hoiah ka misanawk to hnuk kang nawn o sak moe, nangmah ih ahmin hoiah nihcae to ka tit o han.
5Nhờ Chúa, chúng tôi sẽ xô đổ cừu địch chúng tôi; Nhân danh Chúa, chúng tôi giày đạp những kẻ dấy nghịch cùng chúng tôi.
6Kaimah ih kalii hae kang oep haih mak ai, ka sumsen mah doeh na pahlong mak ai.
6Vì tôi chẳng nhờ cậy cung tôi, Thanh gươm tôi cũng sẽ chẳng cứu tôi đâu;
7Toe kai hnuma kaminawk to na zatsak moe, kaicae to misanawk ban thung hoiah nang pahlong.
7Nhưng Chúa đã cứu chúng tôi khỏi cừu địch chúng tôi, Làm bỉ mặt những kẻ ghen ghét chúng tôi.
8Kaicae loe athun qui Sithaw ah ni kam oek o, na hmin to dungzan khoek to ka saphaw o. Selah .
8Hằng ngày chúng tôi đã khoe mình về Đức Chúa Trời, Lại sẽ cảm tạ danh Chúa đến đời đời.
9Toe vaihi loe nang pahnawt sut boeh moe, azat nang pawsak boeh; kaicae ih misatuh kaminawk hoi doeh nawnto na caeh ai boeh.
9Song nay Chúa đã từ bỏ chúng tôi, làm cho chúng tôi bị nhuốc nhơ, Chúa chẳng còn đi ra cùng đạo binh chúng tôi nữa.
10Kaicae hae misa khae hoiah nam laemsak let: kaicae hnuma kaminawk loe angmacae koeh ah amro o.
10Chúa khiến chúng tôi lui lại trước mặt cừu địch, Và kẻ ghét chúng tôi cướp lấy của cho mình.
11Moicaak han suek ih tuu baktiah nang prawt sut boeh moe, Sithaw panoek ai kaminawk salakah nang haehsak phang.
11Chúa đã phó chúng tôi khác nào chiên bị định làm đồ ăn, Và đã làm tan lạc chúng tôi trong các nước.
12Nangmah ih kaminawk to atho kazoi ah na zawh, toe nihcae zawhhaih atho mah nang ih hmuenmae to pung kue mak ai.
12Chúa đã bán dân sự Chúa không giá chi, Và đánh giá chúng nó chẳng cao.
13Ka imtaeng ih kaminawk mah kasaethuih han kahoih ah nang sak, ka imtaeng kaminawk mah kasaethuihaih hoi pahnuithuihaih to nang phawsak.
13Chúa làm chúng tôi thành vật ô nhục cho kẻ lân cận chúng tôi, Làm đồ nhạo báng và một sự chê cười cho những kẻ ở xung quanh.
14Sithaw panoek ai kaminawk salakah patahhaih lok ah na thuih moe, minawk salakah lu haek thuih hanah nang sak.
14Chúa làm chúng tôi nên tục ngữ giữa các nước, Trong các dân, ai thấy chúng tôi bèn lắc đầu.
15Na hmaa ah ni thokkruek ahmin ka set moe, ka mikhmai hae azathaih mah khuk khoep boeh,
15Cả ngày sự sỉ nhục ở trước mặt tôi, Sự hổ ngươi bao phủ mặt tôi,
16kasaethuih koeh kami hoi ahmin setsak koeh kami, lulak koeh kami hoi misanawk pongah ni, to tiah ka oh.
16Tại vì tiếng kẻ sỉ nhục mắng chưởi, Và vì cớ kẻ thù nghịch và kẻ báo thù.
17Hae hmuennawk boih kaicae nuiah phak; toe nang kang pahnet o ai, lok na maihaih doeh ka phrae o ai.
17Mọi điều ấy đã xảy đến cho chúng tôi; song chúng tôi nào quên Chúa. Cũng không bội nghịch giao ước của Chúa.
18Kaicae ih palungthin loe hnuk bangah amlaem ai moe, kaicae ih khoknawk doeh na loklam hoiah amkhraeng ai;
18Lòng chúng tôi không thối lại, Bước chúng tôi cũng không trở khỏi lối Chúa.
19toe tasuinawk ohhaih salakah nang tit moe, duekhaih tahlip hoiah nang kraeng khoep.
19Dầu vậy, Chúa đã bẻ nát chúng tôi trong chỗ chó rừng, Bao phủ chúng tôi bằng bóng sự chết.
20Kaicae mah Sithaw ih ahmin ka pahnet o moe, prae kalah sithaw khaeah ban ka payangh o cadoeh,
20Nếu chúng tôi có quên danh Đức Chúa Trời chúng tôi, Hoặc giơ tay mình hướng về một thần lạ,
21Sithaw loe palung thungah tamquta hoi poek ih hmuen to panoek pongah anih mah hnu mak ai maw?
21Đức Chúa Trời há sẽ chẳng hỏi tra sao? Vì Ngài biết thấu sự bí mật của lòng.
22Ue, nang pongah athun qui duekhaih ka tong o; hum han ih tuu baktiah ang poek o.
22Thật vì Chúa mà hằng ngày chúng tôi bị giết, Chúng tôi bị kể như con chiên dành cho lò cạo.
23Aw Angraeng, anglawt lai ah, tipongah na iih loe? Angthawk ah, kaicae hae dungzan khoek to na haek hmah.
23Hỡi Chúa, hãy tỉnh thức! Nhân sao Chúa ngủ? Hãy chỗi dậy, chớ từ bỏ chúng tôi luôn luôn.
24Tipongah mikhmai na hawk ving moe, kaicae raihaih hoi patangkhanghaih to nang pahnet pae ving loe?
24Cớ sao Chúa giấu mặt đi, Quên nỗi hoạn nạn và sự hà hiếp chúng tôi?
25Kaicae hinghaih loe maiphu thungah krak tathuk boeh moe, kaicae ih zok doeh long ah angbet caeng boeh.
25Vì linh hồn chúng tôi bị phục dưới bụi tro; Thân thể chúng tôi dính vào đất.
26Kaicae abomh han angthawk ah loe, na palungnathaih hoiah kaicae hae na krang ah.
26Xin Chúa hãy chỗi dậy mà giúp đỡ chúng tôi, Hãy vì sự nhân từ Chúa mà chuộc chúng tôi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.