Saam 59
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Aw ka Sithaw, ka misanawk ban thung hoi na loisak ah; ka misanawk ban thung hoiah pakaa ah.
1Đức Chúa Trời tôi ôi! xin giải cứu tôi khỏi các kẻ thù nghịch tôi, Bảo hộ tôi khỏi những kẻ dấy nghịch cùng tôi.
2Kasae sah kaminawk thung hoiah na loisak ah; athii anghae kaminawk ih ban thung hoiah na pahlong ah.
2Xin hãy giải tôi khỏi những kẻ làm ác, Và cứu tôi khỏi những người làm đổ huyết.
3Khenah, nihcae loe kai hum hanah angang o; Aw Angraeng, thacak kaminawk loe ka zaehaih pongah na ai, ka sakpazaehaih pongah doeh na ai ah, ka nuiah kahoih ai hmuen sak hanah amkhueng o.
3Vì kìa, chúng nó rình rập hại mạng sống tôi; Đức Giê-hô-va ơi! những người mạnh dạn nhóm họp nhau nghịch tôi; Chẳng phải vì sự vi phạm tôi, cũng chẳng vì tội lỗi tôi.
4Nihcae loe ka sakpazaehaih tidoeh om ai ah, cawnh o moe, tuk hanah amsak o coek boeh; kai abomh hanah angthawk ah loe na khen ah!
4Mặc dầu tôi không lầm lỗi, chúng nó chạy tới toan đánh; Xin Chúa hãy tỉnh thức để giúp đỡ tôi, và hãy xem xét.
5Aw misatuh kaminawk ih Angraeng Sithaw, Israel Sithaw, Sithaw panoek ai kaminawk thuitaek hanah angthawk ah; kasae sah kami loe, kawbaktih kami nuiah doeh palungnathaih to tawn hmah. Selah .
5Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Xin hãy chỗi dậy để thăm viếng các nước; Chớ thương xót kẻ nào phạm gian ác.
6Nihcae loe duembang ah amlaem o; ui baktiah hangh o moe, vangpui thungah amkaeh o.
6Buổi chiều chúng nó trở lại, tru như chó, Và đi vòng quanh thành.
7Khenah, nihcae loe patoekhaih lok to thuih o; nihcae ih pahni thungah loe sumsen to oh, mi mah maw thaih tang tih, tiah a thuih o.
7Kìa, miệng chúng nó tuôn lời mắng chưởi; Những gươm ở nơi môi chúng nó; Vì chúng nó rằng: Có ai nghe đâu?
8Toe Aw Angraeng, nihcae to pahnui thui ah loe, Sithaw panoek ai kaminawk boih to pahnui thui ah.
8Nhưng, Đức Giê-hô-va ơi, Ngài sẽ cười chúng nó, Và nhạo báng các nước.
9Anih thacakhaih ah kaom nang, nang to kang zing han; Aw Sithaw, nang loe ka buephaih ah na oh.
9Bởi cớ sức lực nó, tôi sẽ ngửa trông Chúa; Vì Đức Chúa Trời là nơi ẩn náu cao của tôi.
10Amlunghaih ka Sithaw mah na pakaa tih; ka misanawk nuiah anghoehaih to Sithaw mah na hnusak tih.
10Đức Chúa Trời sẽ lấy sự nhân từ Ngài mà đến đón tôi; Đức Chúa Trời sẽ cho tôi thấy sự báo trả kẻ thù nghịch tôi.
11Kaicae angvaenghaih, Aw Angraeng, nihcae to hum hmah; na hum nahaeloe kai ih kaminawk mah pahnet o ving moeng tih; na thacakhaih hoiah nihcae to anghaehsak phaeng ah loe, pakhrah tathuk ah.
11Hỡi Chúa, là cái khiên đỡ chúng tôi, Chớ giết họ, e dân sự tôi quên chăng; Hãy dùng quyền năng Chúa mà tản lạc và đánh đổ chúng nó đi.
12Pakha hoi tangoenghaih, kamoek pahninawk hoiah a thuih o ih lok amlaihaih pongah aman o king nasoe.
12Vì cớ tội miệng chúng nó, tức là lời môi chúng nó, Và vì cớ nguyền rủa và sự dối trá mà chúng nó nói ra, Nguyện chúng nó bị mắc trong sự kiêu ngạo mình!
13Palungphuihaih hoiah nihcae to amrosak ah loe, tamit boih ah; Jakob hoi long boenghaih khoek to Sithaw mah ni uk, tiah nihcae mah panoek o nasoe. Selah .
13Xin Chúa hãy nổi giận mà tiêu diệt chúng nó, khá tiêu diệt đi, Hầu cho chúng nó không còn nữa; Hãy cho chúng nó biết rằng Đức Chúa Trời cai trị nơi Gia-cốp, Cho đến cùng đầu trái đất.
14Nihcae loe duembang ah amlaem o nasoe; ui baktiah hang o nasoe loe, vangpui thungah amkae o nasoe.
14Buổi chiều chúng nó trở lại, tru như chó, Và đi vòng quanh thành.
15Buh pakronghaih hoiah ahmuen kruekah amhet o nasoe loe, zok kamthlam ah aqum puek hang o nasoe.
15Chúng nó đi đây đó đặng kiếm ăn; Nếu không được no nê, thì sẽ ở trọn đêm tại đó.
16Toe kai loe na thacakhaih to laa ah ka sak han; ue, raihaih ka tong naah, nang loe kang vaenghaih hoi ka buephaih ah na oh pongah, na palungnathaih pongah akhawnbang ah hanghaih hoiah laa ka sak han.
16Nhưng tôi sẽ ca hát về sức lực Chúa; Phải, buổi sáng tôi sẽ hát lớn tiếng về sự nhân từ Chúa; Vì Chúa là nơi ẩn náu cao của tôi, Một nơi nương náu mình trong ngày gian truân.
17Aw ka thacakhaih, nang khaeah laa ka sak han; Sithaw loe ka buephaih ah oh moe, amlunghaih Sithaw ah oh.
17Hỡi sức lực tôi, tôi sẽ ngợi khen Ngài; Vì Đức Chúa Trời là nơi ẩn náu cao của tôi, tức là Đức Chúa Trời làm ơn cho tôi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.