Salmos
Chapter 40
Bíblia Portuguesa Mundia…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Esperei pacientemente pelo SENHOR. Ele se inclinou para mim e ouviu o meu clamor.
1Tôi nhịn nhục trông đợi Đức Giê-hô-va, Ngài nghiêng qua nghe tiếng kêu cầu của tôi.
2Ele também me tirou de um poço de destruição, do barro lamacento. Ele colocou os meus pés sobre uma rocha, e firmou os meus passos.
2Ngài cũng đem tôi lên khỏi hầm gớm ghê, Khỏi vũng bùn lấm; Ngài đặt chân tôi trên hòn đá, Và làm cho bước tôi vững bền.
3Ele pôs um novo cântico na minha boca, um louvor ao nosso Deus. Muitos verão isso, temerão, e confiarão no SENHOR.
3Ngài để nơi miệng tôi một bài hát mới, Tức là sự ngợi khen Đức Chúa Trời chúng tôi. Lắm người sẽ thấy điều đó, bắt sợ, Và nhờ cậy nơi Đức Giê-hô-va.
4Bem-aventurado é o homem que faz do SENHOR a sua confiança, e não respeita os orgulhosos, nem os que se desviam para a mentira.
4Phước cho người nào để lòng tin cậy nơi Đức Giê-hô-va, Chẳng nể vì kẻ kiêu ngạo, hoặc kẻ xây theo sự dối trá!
5Muitas, SENHOR, meu Deus, são as maravilhas que tu fizeste, e os teus pensamentos para conosco. Não é possível relatá-los a ti. Se eu quisesse declará-los e falar deles, são mais do que se pode contar.
5Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi, công việc lạ lùng Chúa đã làm, Và những tư tưởng của Chúa hướng cùng chúng tôi, thật là nhiều, Không thể sắp đặt trước mặt Chúa; Nếu tôi muốn truyền các việc ấy ra, và nói đến, Thật lấy làm nhiều quá không đếm được.
6Sacrifício e oferta tu não desejaste. Tu abriste os meus ouvidos. Tu não exigiste holocausto e oferta pelo pecado.
6Chúa không thích đẹp hi sinh hoặc của lễ chay: Chúa đã sỏ tai tôi. Chúa không có đòi của lễ thiêu hay là của lễ chuộc tội.
7Então eu disse: “Eis que eu venho. Está escrito sobre mim no rolo do livro.
7Bấy giờ tôi nói: Nầy tôi đến; Trong quyển sách đã có chép về tôi;
8Tenho prazer em fazer a tua vontade, meu Deus. Sim, a tua lei está no meu coração.”
8Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.
9Eu proclamei as boas-novas de justiça na grande congregação. Eis que não selarei os meus lábios, SENHOR, tu o sabes.
9Trong hội lớn tôi đã truyền tin vui về sự công bình; Kìa, tôi chẳng có ngậm miệng lại, Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài biết điều đó.
10Não escondi a tua justiça no meu coração. Eu declarei a tua fidelidade e a tua salvação. Não ocultei o teu amor leal e a tua verdade da grande congregação.
10Tôi chẳng giấu sự công bình Chúa ở nơi lòng tôi; Tôi đã truyền ra sự thành tín và sự cứu rỗi của Chúa; Tôi nào có giấu hội lớn sự nhân từ và sự chân thật của Chúa.
11Não retenhas de mim as tuas ternas misericórdias, SENHOR. Que o teu amor leal e a tua verdade me preservem continuamente.
11Đức Giê-hô-va ôi! đối cùng tôi chớ khép lòng thương xót của Ngài; Nguyện sự nhân từ và sự chân thật của Ngài gìn giữ tôi luôn luôn.
12Pois males inumeráveis me cercaram. Minhas iniquidades me alcançaram, de modo que não consigo olhar para cima. Elas são mais numerosas do que os cabelos da minha cabeça. O meu coração desfaleceu.
12Vì vô số tai họa đã vây quanh tôi; Các gian ác tôi đã theo kịp tôi, Đến nỗi không thể ngước mắt lên được; Nó nhiều hơn tóc trên đầu tôi, Lòng tôi đã thất kinh.
13Agrada-te, SENHOR, em me livrar. Apressa-te em me ajudar, SENHOR.
13Đức Giê-hô-va ôi! xin sẵn lòng giải cứu tôi. Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy mau mau giúp đỡ tôi.
14Sejam envergonhados e confundidos juntos os que buscam a minha alma para destruí-la. Sejam obrigados a recuar e levados à desonra os que se alegram com o meu mal.
14Phàm kẻ nào tìm giết mạng sống tôi, Nguyện chúng nó bị mất cỡ và hổ thẹn cả; Phàm kẻ nào vui vẻ về sự thiệt hại tôi, Nguyện chúng nó phải lui lại và bị sỉ nhục.
15Fiquem desolados por causa da sua vergonha os que me dizem: “Ah! Ah!”
15Các kẻ nói về tôi: Ha, ha! Nguyện chúng nó bị sửng sờ vì cớ sự sỉ nhục của chúng nó.
16Que todos os que te buscam se regozijem e se alegrem em ti. Que aqueles que amam a tua salvação digam continuamente: “Exaltado seja o SENHOR!”
16Nguyện hết thảy những kẻ tìm cầu Chúa, Được vui vẻ và khoái lạc nơi Chúa; Nguyện những người yêu mến sự cứu rỗi của Chúa, Hằng nói rằng: Đức Giê-hô-va đáng tôn đại thay?
17Mas eu sou pobre e necessitado. Que o Senhor pense em mim. Tu és o meu auxílio e o meu libertador. Não te demores, meu Deus.
17Còn tôi là khốn cùng và thiếu thốn; Dầu vậy, Chúa tưởng đến tôi. Chúa là sự tiếp trợ tôi, và là Đấng giải cứu tôi. Đức Chúa Trời tôi ôi! xin chớ trễ hoãn.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.