Gênesis 1
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1No princípio, Deus criou os céus e a terra.
1Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.
2A terra era sem forma e vazia. As trevas estavam sobre a superfície do abismo e o Espírito de Deus pairava sobre a superfície das águas.
2Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.
3Disse Deus: “Haja luz”, e houve luz.
3Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng.
4Deus viu a luz, e viu que era boa. Deus separou a luz das trevas.
4Đức Chúa Trời thấy sáng là tốt lành, bèn phân sáng ra cùng tối.
5Deus chamou à luz “dia”, e às trevas ele chamou “noite”. Houve tarde e houve manhã, o primeiro dia.
5Đức Chúa Trời đặt tên sự sáng là ngày; sự tối là đêm. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhất.
6Disse Deus: “Haja um firmamento no meio das águas, e que ele separe as águas das águas.”
6Đức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có một khoảng không ở giữa nước đặng phân rẽ nước cách với nước.
7Deus fez o firmamento, e separou as águas que estavam debaixo do firmamento das águas que estavam por cima do firmamento; e assim foi.
7Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không; thì có như vậy.
8Deus chamou ao firmamento “céu”. Houve tarde e houve manhã, o segundo dia.
8Đức Chúa Trời đặt tên khoảng không là trời. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhì.
9Disse Deus: “Que as águas debaixo do céu se ajuntem num só lugar, e apareça a porção seca”; e assim foi.
9Đức Chúa Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn bày ra; thì có như vậy.
10Deus chamou à porção seca “terra”, e ao ajuntamento das águas ele chamou “mares”. Deus viu que era bom.
10Đức Chúa Trời đặt tên chỗ khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại là biển. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
11Disse Deus: “Que a terra produza relva, ervas que deem semente, e árvores frutíferas que deem fruto segundo a sua espécie, com as suas sementes nele, sobre a terra”; e assim foi.
11Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh cây cỏ; cỏ kết hột giống, cây trái kết quả, tùy theo loại mà có hột giống trong mình trên đất; thì có như vậy.
12A terra produziu relva, ervas dando semente segundo a sua espécie, e árvores dando fruto, com as suas sementes nele, segundo a sua espécie; e Deus viu que era bom.
12Đất sanh cây cỏ: cỏ kết hột tùy theo loại, cây kết quả có hột trong mình, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
13Houve tarde e houve manhã, o terceiro dia.
13Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ ba.
14Disse Deus: “Haja luminares no firmamento do céu para separar o dia da noite; e que eles sirvam de sinais para marcar as estações, os dias e os anos;
14Đức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có các vì sáng trong khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và năm;
15e que eles sirvam de luminares no firmamento do céu para iluminar a terra”; e assim foi.
15lại dùng làm vì sáng trong khoảng không trên trời để soi xuống đất; thì có như vậy.
16Deus fez os dois grandes luminares: o luminar maior para governar o dia, e o luminar menor para governar a noite. Ele fez também as estrelas.
16Đức Chúa Trời làm nên hai vì sáng lớn; vì lớn hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm; Ngài cũng làm các ngôi sao.
17Deus os colocou no firmamento do céu para iluminar a terra,
17Đức Chúa Trời đặt các vì đó trong khoảng không trên trời, đặng soi sáng đất,
18e para governar sobre o dia e sobre a noite, e para separar a luz das trevas. Deus viu que era bom.
18đặng cai trị ban ngày và ban đêm, đặng phân ra sự sáng với sự tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
19Houve tarde e houve manhã, o quarto dia.
19Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ tư.
20Disse Deus: “Que as águas fervilhem de criaturas vivas, e que as aves voem sobre a terra no firmamento aberto do céu.”
20Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời.
21Deus criou as grandes criaturas marinhas e toda criatura viva que se move, com as quais as águas fervilhavam, segundo a sua espécie, e toda ave alada segundo a sua espécie. Deus viu que era bom.
21Đức Chúa Trời dựng nên các loài cá lớn, các vật sống hay động nhờ nước mà sanh nhiều ra, tùy theo loại, và các loài chim hay bay, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
22Deus os abençoou, dizendo: “Sejam férteis e multipliquem-se, e encham as águas nos mares, e que as aves se multipliquem sobre a terra.”
22Đức Chúa Trời ban phước cho các loài đó mà phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy sanh sản trên đất cho nhiều.
23Houve tarde e houve manhã, o quinto dia.
23Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ năm.
24Disse Deus: “Que a terra produza criaturas vivas segundo a sua espécie, gado, animais rastejantes e animais da terra segundo a sua espécie”; e assim foi.
24Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh các vật sống tùy theo loại, tức súc vật, côn trùng, và thú rừng, đều tùy theo loại; thì có như vậy.
25Deus fez os animais da terra segundo a sua espécie, e o gado segundo a sua espécie, e tudo o que rasteja sobre a terra segundo a sua espécie. Deus viu que era bom.
25Đức Chúa Trời làm nên các loài thú rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, và các côn trùng trên đất tùy theo loại, Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
26Disse Deus: “Façamos o homem à nossa imagem, conforme a nossa semelhança. Que eles tenham domínio sobre os peixes do mar, e sobre as aves do céu, e sobre o gado, e sobre toda a terra, e sobre todo animal rastejante que rasteja sobre a terra.”
26Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất.
27Deus criou o homem à sua própria imagem. À imagem de Deus ele o criou; macho e fêmea ele os criou.
27Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.
28Deus os abençoou. Deus lhes disse: “Sejam férteis, multipliquem-se, encham a terra e subjuguem-na. Tenham domínio sobre os peixes do mar, sobre as aves do céu e sobre todo ser vivo que se move sobre a terra.”
28Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất.
29Disse Deus: “Eis que, eu lhes dei toda erva que dá semente, que está sobre a superfície de toda a terra, e toda árvore que dá fruto com semente. Isso servirá de alimento para vocês.
29Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi.
30E a todo animal da terra, e a toda ave do céu, e a tudo o que rasteja sobre a terra, em que há vida, eu dei toda erva verde como alimento”; e assim foi.
30Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy.
31Deus viu tudo o que havia feito, e eis que era muito bom. Houve tarde e houve manhã, o sexto dia.
31Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.