Salmos 69
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Salve-me, ó Deus, pois as águas subiram até o meu pescoço!
1Đức Chúa Trời ôi! xin cứu tôi, Vì những nước đã thấu đến linh hồn tôi.
2Afundo em lama profunda, onde não há onde firmar os pés. Entrei em águas profundas, onde as correntezas me encobrem.
2Tôi lún trong bùn sâu, nơi không đụng cẳng; Tôi bị chìm trong nước sâu, dòng nước ngập tôi.
3Estou exausto de tanto clamar. Minha garganta está seca. Meus olhos fraquejam de tanto procurar pelo meu Deus.
3Tôi la mệt, cuống họng tôi khô; Mắt tôi hao mòn đang khi trông đợi Đức Chúa Trời tôi.
4Aqueles que me odeiam sem motivo são mais numerosos que os cabelos da minha cabeça. Aqueles que querem me destruir, sendo meus inimigos injustamente, são poderosos. Tenho que restituir o que não roubei.
4Những kẻ ghen ghét tôi vô cớ Nhiều hơn số tóc đầu tôi; Những kẻ làm thù nghịch tôi vô cớ và muốn hại tôi thật mạnh; Tôi phải bồi thường điều tôi không cướp giựt.
5Ó Deus, o Senhor conhece a minha insensatez. Meus pecados não estão escondidos do Senhor.
5Đức Chúa Trời ôi! Chúa biết sự ngu dại tôi, Các tội lỗi tôi không giấu Chúa được.
6Não deixe que aqueles que esperam no Senhor sejam envergonhados por minha causa, Senhor DEUS dos Exércitos. Não deixe que aqueles que buscam o Senhor sejam desonrados por minha causa, ó Deus de Israel.
6Hỡi Chúa Giê-hô-va vạn quân, Nguyện những kẻ trông đợi Chúa chớ bị hổ thẹn vì cớ tôi; Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! Nguyện kẻ nào tìm cầu Chúa chớ bị sỉ nhục tại vì việc tôi.
7Pois, por sua causa, tenho suportado afrontas. A vergonha cobriu o meu rosto.
7Aáy vì Chúa mà tôi đã mang sự nhuốc nhơ, Và bị sự hổ thẹn bao phủ mặt tôi.
8Tornei-me um estranho para os meus irmãos, um estrangeiro para os filhos da minha mãe.
8Tôi đã trở nên một kẻ lạ cho anh em tôi, Một người ngoại bang cho các con trai mẹ tôi.
9Pois o zelo pela sua casa me consome. As afrontas daqueles que o afrontam caíram sobre mim.
9Vì sự sốt sắng về đền Chúa tiêu nuốt tôi, Sự sỉ nhục của kẻ sỉ nhục Chúa đã đổ trên tôi.
10Quando chorei e jejuei, isso se tornou em afronta para mim.
10Tôi khóc và nhịn ăn để ép linh hồn tôi, Thì điều đó cũng trở làm sỉ nhục tôi.
11Quando fiz de pano de saco a minha roupa, tornei-me motivo de zombaria para eles.
11Tôi lấy bao gai mặc làm áo xống, Bèn trở nên câu tục ngữ cho chúng nó.
12Aqueles que se sentam à porta da cidade falam de mim. Eu sou a canção dos bêbados.
12Những kẻ ngồi nơi cửa thành trò chuyện về tôi; Tôi là đề câu hát của những người uống rượu.
13Mas, quanto a mim, a minha oração é ao SENHOR, num tempo aceitável. Ó Deus, na abundância do seu amor leal, responda-me com a verdade da sua salvação.
13Nhưng Đức Giê-hô-va ơi, tôi nhờ dịp tiện Mà cầu nguyện cùng Ngài. Đức Chúa Trời ơn, theo sự thương xót lớn của Chúa, Và theo lẽ thật về sự cứu rỗi của Chúa, xin hãy đáp lại tôi.
14Livre-me da lama, e não me deixe afundar. Que eu seja liberto daqueles que me odeiam, e das águas profundas.
14Xin hãy cứu tôi khỏi vũng bùn, kẻo tôi lún chăng; Nguyện tôi được giải thoát khỏi những kẻ ghét tôi, và khỏi nước sâu.
15Não deixe que as correntezas das águas me encubram, nem deixe que as profundezas me engulam. Não deixe que a cova feche a sua boca sobre mim.
15Nguyện dòng nước không ngập tôi, Vực sâu chớ nhận tôi, Hầm không lấp miệng nó lại trên tôi.
16Responda-me, SENHOR, pois o seu amor leal é bom. Segundo a multidão das suas ternas misericórdias, volte-se para mim.
16Đức Giê-hô-va ơi, xin hãy đáp lại tôi; vì sự nhân từ Ngài là tốt; Tùy sự thương xót lớn của Ngài, xin hãy xây lại cùng tôi.
17Não esconda o seu rosto do seu servo, pois estou em angústia. Responda-me depressa!
17Xin Chúa chớ giấu mặt cùng tôi tớ Chúa, vì tôi đang bị gian truân; Hãy mau mau đáp lại tôi.
18Aproxime-se da minha alma e resgate-a. Livre-me por causa dos meus inimigos.
18Cầu xin Chúa đến gần linh hồn tôi và chuộc nó; Vì cớ kẻ thù nghịch tôi, xin hãy cứu chuộc tôi.
19O Senhor conhece a minha afronta, a minha vergonha e a minha desonra. Todos os meus adversários estão diante do Senhor.
19Chúa biết sự sỉ nhục, sự hổ thẹn, và sự nhuốt nhơ của tôi: Các cừu địch tôi đều ở trước mặt Chúa.
20A afronta partiu o meu coração, e estou cheio de tristeza. Procurei por alguém que tivesse pena, mas não houve ninguém; por consoladores, mas não encontrei nenhum.
20Sự sỉ nhục làm đau thương lòng tôi, tôi đầy sự khổ nhọc; Tôi trông đợi có người thương xót tôi, nhưng chẳng có ai; Tôi mong-nhờ người an ủi, song nào có gặp.
21Também me deram veneno por comida. Na minha sede, deram-me vinagre para beber.
21Chúng nó ban mật đắng làm vật thực tôi, Và cho tôi uống giấm trong khi khát.
22Que a mesa diante deles se torne um laço. Que se torne uma retribuição e uma armadilha.
22Nguyện bàn tiệc trước mặt chúng nó trở nên cái bẫy; Khi chúng nó được bình an, nguyện nó lại trở nên cái lưới.
23Que os seus olhos escureçam, para que não possam ver. Que as suas costas fiquem continuamente curvadas.
23Nguyện mắt chúng nó bị tối, không còn thấy, Và hãy làm cho lưng chúng nó hằng run.
24Derrame sobre eles a sua indignação. Que o furor da sua ira os alcance.
24Hãy đổ cơn thạnh nộ Chúa trên chúng nó. Khiến sự giận dữ Chúa theo kịp họ.
25Que a habitação deles fique desolada. Que ninguém habite em suas tendas.
25Nguyện chỗ ở chúng nó bị bỏ hoang, Chẳng có ai ở trong trại chúng nó nữa.
26Pois eles perseguem aquele a quem o Senhor feriu. Eles falam da dor daqueles a quem o Senhor afligiu.
26Vì chúng nó bắt bớ kẻ Chúa đã đánh, Và thuật lại sự đau đớn của người mà Chúa đã làm cho bị thương.
27Acrescente crime sobre crime a eles. Não deixe que eles entrem na sua justiça.
27Cầu xin Chúa hãy gia tội ác vào tội ác chúng nó; Chớ cho chúng nó vào trong sự công bình của Chúa.
28Que eles sejam apagados do livro da vida, e não sejam inscritos com os justos.
28Nguyện chúng nó bị xóa khỏi sách sự sống, Không được ghi chung với người công bình.
29Mas eu estou em dor e angústia. Que a sua salvação, ó Deus, me proteja.
29Còn tôi bị khốn cùng và đau đớn: Đức Chúa Trời ơn, nguyện sự cứu rỗi của Chúa nâng đỡ tôi lên nơi cao.
30Louvarei o nome de Deus com uma canção, e o engrandecerei com ações de graças.
30Tôi sẽ dùng bài hát mà ngợi khen danh Đức Chúa Trời, Và lấy sự cảm tạ mà tôn cao Ngài.
31Isso agradará mais ao SENHOR do que um boi, ou um touro com chifres e cascos.
31Điều ấy sẽ đẹp lòng Đức Giê-hô-va hơn con bò đực, Hoặc con bò đực có sừng và móng rẽ ra.
32Os humildes viram isso e se alegram. Vocês que buscam a Deus, que o seu coração viva.
32Những người hiền từ sẽ thấy điều đó và vui mừng; Hỡi các người tìm cầu Đức Chúa Trời, nguyện lòng các ngươi được sống.
33Pois o SENHOR ouve os necessitados, e não despreza o seu povo cativo.
33Vì Đức Giê-hô-va nghe kẻ thiếu thốn, Không khinh dể những phu tù của Ngài.
34Que os céus e a terra o louvem; os mares, e tudo o que neles se move!
34Nguyện trời, đất, biển, Và các vật hay động trong đó, đều ngợi khen Ngài.
35Pois Deus salvará Sião, e construirá as cidades de Judá. Eles se estabelecerão lá, e a possuirão.
35Vì Đức Chúa Trời sẽ cứu Si-ôn, và xây lại các thành Giu-đa; Dân sự sẽ ở đó, được nó làm của.
36Os filhos também dos seus servos a herdarão. Aqueles que amam o seu nome habitarão nela.
36Dòng dõi các tôi tớ Ngài sẽ hưởng nó làm sản nghiệp; Phàm ai yêu mến danh Ngài sẽ ở tại đó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.